Chairman’s
Letter – 1984
BERKSHIRE HATHAWAY INC
Tới các cổ đông
của Berkshire Hathaway Inc
15/09/2015
1/26
Thành tích của chúng tôi trong giá trị ròng năm 1984 là $152,6 triệu, hoặc
$133 mỗi cổ phiếu. Căn cứ này khá tốt nhưng thực tế tầm thường. Lợi nhuận kinh
tế phải được đánh giá bởi so sánh với nguồn vốn tạo ra chúng. 20 năm lãi kép hằng
năm trong giá trị sổ sách đã là 22,1% (từ $19,46 trong năm 1964 tới $1108,77
trong năm 1984), nhưng lợi nhuận trong năm 1984 chỉ là 13,6%.
Như
chúng ta đã thảo luận năm ngoài, lợi ích trong giá trị doanh nghiệp nội tại mỗi
cổ phiếu là đo lường kinh tế mà thực tính đến. Nhưng cách tính toán ở giá trị
doanh nghiệp nội tại là chủ quan. Trong trường hình chúng tôi, giá trị sổ sách
cung cấp như một sự hữu ích, mặc dù có phần kiềm chế, ủy nhiệm. Trong đánh giá
của chúng tôi, giá trị doanh nghiệp nội và giá trị sổ sách đã tăng thêm trong
thời gian năm 1984 tại khoảng tỷ lệ giống nhau.
Sử
dụng giọng nói học thuật của tôi, tôi đã nói với bạn trong quá khứ ở điều trở
ngại mà một nguồn vốn phát triển nhanh dựa trên cơ sở tỷ suất sinh lời. Thật
không may, giọng nói học thuật của tôi bây giờ đang nhường chỗ cho một giọng
báo cáo. Tỷ lệ 22% lịch sử cũng chỉ là lịch sự. Tới kiếm được thậm chí 15%
trong thập kỷ sắp tới (giả định chúng tôi tiếp tục đi theo chính sách cổ tức hiện
tại, về cái nhiều hơn sẽ được nói trong đoạn sau bức thư này) chúng tôi sẽ cần thiết tổng lợi nhuận khoảng
$3,9 tỷ. Thực hiện điều nay sẽ đòi hỏi một vài ý tưởng lớn – những cái nhỏ sẽ
không làm. Charlie Munger, đối tác của tôi trong quản lý chung, và tôi sẽ không
nhất thiết có bất cứ các ý tưởng như vậy bây giờ, nhưng kinh nghiệm của chúng
tôi đã có rằng chúng thỉnh thoảng bật lên.
Nguồn
của các thu nhập được báo cáo
Bảng
ở trang sau trình bày các nguồn thu nhập được báo cáo của Berkshire. Lợi ích
quyền sở hữu ròng của Berkshire trong nhiều doanh nghiệp cấu thành đã thay đổi ở
thời điểm cuối năm 1983 khi sáp nhập Blue Chip được diễn ra. Tại vì các thay đổi
này, 2 cột đầu tiên của bảng cung cấp đo lường tốt nhất hiệu quả kinh doanh cơ
bản.
Tất
cả ở thua lỗ, sinh lợi đáng kể tính cho bán các tài sản bất thường bởi bất cứ
các thực tế kinh doanh được tổng hợp với các giao dịch chứng khoán trong dòng gần
cuối phía dưới của bảng, và nó không bao gồm trong thu nhập kinh doanh. (Chúng
tôi đánh giá bất cứ con số hằng năm cho phản anh thua lỗ và sinh lời như vô
nghĩa, nhưng chúng tôi đánh giá tổng hợp phản ánh thua lỗ hoặc sinh lời lợi nhuận
vốn trên giai đoạn các năm rất quan trọng.)
Hơn
nữa, sự khấu hao của Goodwill không tính vào đối với những doanh nghiệp cụ thể
nhưng, đối với các lý do được phác họa trong Appendix tới bức thư của tôi trong
báo cáo hằng năm năm 1983, nó được nêu lên như một mục riêng biệt.
Các
cổ đông tinh mắt sẽ để ý rằng số lượng ở sự phân phối GEICO dành riêng và vị
trí của nó trong bảng đã có thay đổi từ sự trình bày của năm ngoài. Dẫu cho
chúng phân loại và các thu nhập ‘’account’’ suy giảm, các thay đổi là hoàn toàn
ở hình thức, không ở thực chất. Câu chuyện đằng sau các thay đổi, tuy vậy, đang
dính dáng dến.
Như
báo cáo năm trước: (1) trong giữa năm 1983 GEICO thực hiện một đề xuất bỏ thầu
mua các cổ phiếu của nó; (2) cùng thời gian, chúng tôi đồng ý bằng văn bản hợp
đồng tới bán GEICO một số lượng cổ phiếu của mà cân xứng liên quan tới tổng số
lượng công phiếu GEICO mua lại theo đường bỏ thầu tới tất cả các cổ đông khác
(3) tại thời điểm hoàn thành bỏ thầu, chúng tôi đã chuyển giao 350 000 cổ phiếu
tới GEICO, nhận lại $21 triệu tiền mặt, và cho phép sở hữu chính xác phần trăm
giống ở GEICO mà chúng tôi đã sở hữu trước khi bỏ thầu; (4) các giao dịch của
GEICO với chúng tôi tương đương với mua lại tương xứng, một ý kiến được nêu ra
chúng tôi, không có sự dè dặt, bởi một công ty luật hàng đầu; (5) the Tax Code
hợp lý xem xét mua lại tương xứng như thế về thực chất tương đương các cổ tức
và, theo đó $21 triệu chúng tôi đã nhận bị đánh thuế chỉ 6,9% thuế suất cổ tức
công ty liên doanh; (6) quan trọng hơn nữa, rằng $21 triệu là ít hơn nhiều so với
các thu nhập không được phân phối trước đây điều đấy đã có lợi tới quyền sở hữu
của chúng tôi trong GEICO và, theo đó, từ quan điểm cốt lõi kinh tế, trong nhìn
nhận của chúng tôi tương đương như cổ tức.
Tại
vì nó là cần thiết và khác thường, chúng tôi đã nhấn mạnh phần đóng góp GEICO
năm ngoái tới bạn, cả trong báo cáo quí thích hợp và trong khu vực này ở báo
cáo thường niên. Thêm vào đó, chúng tôi đã nổi bật giao dịch tới những kiểm
toán viên chúng tôi, Peat, Marwick, Mitchell & Co. Cả văn phòng Omaha ở Peat Marwick và đối tác rà soát Chicago,
không có phản đối, đã đồng tính với sự trình bày cổ tức của chúng tôi.
Trong
năm 1984, chúng tôi có một giao dịch hầu như giống hệt với General Foods. Sự
khác biệt duy nhất là General Foods mua lại cổ phiếu của nó trong một giai đoạn
thời gian trong thị trường mở, trong khi GEICO đã tạo ra một đề xuất bỏ thầu
‘‘one-shot’’. Trong trường hợp General Foods chúng tôi bán lại tới công ty, vào
ngày nó mua lại các cổ phiếu, số lượng các công phiếu mà cho phép phần trăm quyền
sở hữu của chúng tôi chính xác không thay đổi. Lần nữa giao dịch của chúng tôi
căn cứ vào một hợp đồng văn bản được thực hiện trước khi mua lại bắt đầu. Và lần
nữa tiền chúng tôi được nhận ít hơn nhiều so với các thu nhập được giữ lại mà
có lợi tới quyền lợi quyền sử hữu của chúng tôi từ khi mua. Toàn bộ chúng tôi
được nhận $21 843 601 bằng tiền mặt từ General Foods, và quyền sở hữu được vẫn
giữ nguyên chính xác 8,75%.
Tại
điểm này văn phòng New York của Peat Marwick được đưa vào điển hình. Cuối năm
1984 nó đã chỉ ra rằng nó không đồng ý với các kết luận thuộc văn phòng Omaha của
công ty và đối tác rà soát Chicago. New York nhìn nhận rằng các giao dịch GEICO
và General Foods lên được xem xét như bán cổ phiếu hơn là như khoản thu cổ tức.
Dưới cách tiếp cận kế toán này, một phần ở chi phí đầu tư của chúng tôi trong cổ
phiếu mỗi công ty sẽ được tính dựa vào thanh toán mua lại và bất cứ lợi ích sẽ
được xuất hiện như một lợi ích vốn, không như thu nhập cổ tức. Đây là một các
tiếp cận kế toán chỉ, không có liên quan vào thuế: Peat Marwick đồng ý rằng các
giao dịch là các cổ tức cho các mục đích IRS.
Chúng
tôi không đồng ý với lập trường New York từ cả điểm nhìn ở kinh tế cốt lõi và kế
toán thích hợp. Nhưng, tới tránh một ý kiến kiểm toán có trình độ chuyên môn,
chúng tôi đã chấp nhận khía cạnh quan điểm của Peat Marwick năm 1984 và trình
bày lại phù hợp với năm 1983. Không ai trong số này, dù như thế nào, có bất cứ ảnh
hưởng vào giá trị doanh nghiệp nội tại: các lợi ích quyền sở hữu trong GEICO và
General Foods, tiền mặt, thuế, và giá trị thị trường và các cơ sở thuế của
chúng tôi ở tất cả các chứng khoán vẫn giữ nguyên giống nhau.
16/09/2015 3/26
Năm
nay chúng tôi lần nữa nằm trong một hợp đồng với General Foods qua đó chúng tôi
sẽ bán cho họ các cổ phiếu kiêm với mua thị trường mở mà họ thực hiện. Sự thỏa
thuận đưa ra rằng lợi ích quyền sở hữu của chúng tôi sẽ giữ nguyên không thay đổi
ở tất cả thời gian. Bởi giữ nó như vậy, chúng tôi sẽ đảm bảo chính sự giải quyết
cổ tức tự bản thân cho các mục tiêu thuế. Cũng theo nhìn nhận chúng tôi, bản chất
kinh tế ở giao dịch này ngoài ra tạo ra thu nhập cổ tức. Tuy vậy, chúng tôi sẽ
giải thích cho những sự mua lại như doanh thu các cổ phiếu hơn là thu nhập cổ tức
trừ khi các quy tắc kế toán chấp nhận rằng trực tiếp nói tới điểm này. Chúng
tôi sẽ tiếp tục làm nổi bật bất cứ các giao dịch cụ thể đó trong các báo tới bạn.
Trong
khi chúng tôi thích thú một nghĩa vụ thuế thấp trên redemptions cân xứng này,
và đã có tham gia trong một vài cái, chúng tôi nhìn nhận các mua lại như vậy tối
thiểu bằng nhau thuận lợi cho các cổ đông những người không bán chúng. Khi các
công ty với kinh doanh nổi bật và tình hình tài chính thoải mãi nhận thấy các cổ
phiếu của họ bán thấp hơn nhiều giá trị nội tại trong thị trường, không hành động
thay thế có thể làm lợi cho các cổ đông chắc chắn như mua lại cổ phiếu.
(chứng
thực của chúng ta ở mua lại bị hạn chế đối với những người bị chi phối bởi giá/
các mối quan hệ giá trị và không mở rộng tới mua lại’’greemail’’ – một thực tiễn
chúng tôi nhận thấy ghê tởm và đáng ghét. Trong các giao dịch này, 2 bên tham
gia đạt được mục đích cá nhân của họ bởi khai thác ở một bên thứ 3 ngây thơ và
không suy nghĩ. Những người chơi là: (1) ‘’các cổ đông’’ kẻ tống tiền những người,
thậm chí trước khi mực khô trên chứng nhận cổ phiếu, đưa ra thông điệp’’ tiền của
bạn hoặc cuộc sống của bạn’’ tới những người quản lý: (2) người trong doanh
nghiệp những người nhanh chóng mưu cầu hòa bình tại bất cứ mức giá – miễn là
giá cả được trả bởi người khác: và (3) các cổ đông sở hữu tiền được sử dụng do
(2) để thực hiện và (1) đi xa. Khi bụi lắng xuống, vụ trấn lột, thoáng qua các
cổ động truyền tải tiếng nói của anh ấy ‘’doanh nghiệp tự do’’, người quản lý
trấn lột truyền tải tiếng nói của nó ‘’quyền lợi tốt nhất ở công ty’’, và cổ
đông vô tội đứng bên cạnh các nguồn lực im lặng ở thưởng phạt. )
17/09/2015 4/26
Các công ty trong đó chúng tôi có những đầu
tư lớn nhất đã có tham gia tất cả trong mua lại cổ phiếu đáng kể tại các lần
khi sự khác nhau rộng lớn tồn tại giữa giá và giá trí. Như các cổ đông, chúng
tôi nhận thấy khuyến khích và thỏa mãn này cho 2 lý do quan trọng – một là hiển
nhiên, và một là tinh tế và không luôn luôn hiểu được. Điểm hiển nhiên liên
quan cơ sở số học: những mua lại lớn tại mức giá thấp hơn giá trị doanh nghiệp
nội tại mỗi cổ phiếu ngay lập tức tăng thêm, trong một hướng cao đáng kể, giá
trị. Khi các công ty mua lại cổ phiếu của
họ, họ thường nhận được đơn giản có được $2 ở giá trị hiện tại với giá $1. Các
chương trình mua lại doanh nghiệp hầu hết không bao giờ làm tốt và, trong con số
lớn nản lòng các trường hợp, thất bại có bất cứ các thứ gần tới $1 giá trị cho
mỗi $1 được mở rộng.
Lợi
ích khác ở mua lại ít đưa ra tới đo lường chính xác nhưng có thể hoàn toàn quan
trọng theo thời gian. Bởi thực hiện mua lại khi giá trị thị trường của công ty
bên dưới giá trị doanh nghiệp của nó, quản lý rõ ràng giải thích rằng cái đó thực
hiện các hành động mà nâng cao sự giàu có của các cổ đông, hơn là hành động mà
mở rộng lãnh thổ của quản lý nhưng điều đó không làm gì cho (hoặc thậm chí tổn
hại) các cổ đông. Nhìn vào điều này, các cổ đông và các cổ đông tiềm năng làm
tăng đánh giá của họ ở lợi nhuận tương lai từ doanh nghiệp. Điều chỉnh tăng
này, đến lượt nó, đem lại giá thị trường phù hợp hơn với giá trị doanh nghiệp nội
tại. Giá cả này là hợp lý toàn bộ. Các nhà đầu tư nên trả nhiều hơn cho một
doanh nghiệp mà được đặt vào tay một người quản lý với khuynh hướng ủng hộ cổ
đông hơn là trong tay ở người quản lý tư lợi dẫn đi tới một tay trống khác.
Từ
khóa là ‘’demonstrated’’. Một người quản quay lưng lại với việc mua lại, khi điều
đó rõ rằng trong lợi ích những người sở hữu, lộ ra nhiều hơn so với anh ấy biết
về các động lực của bản thân. Không vấn đề bao lâu hoặc bao hùng hồn anh ấy nói
to nhiều cụm từ quan hệ cảm hứng cộng đồng giống như ‘’maximizing shareholder
wealth’’, thị trường trừ hao phù hợp các tài sản đặt vào với anh ấy. Trái tim
anh ấy không lắng nghe tới miệng anh ấy – và, sau một khoảng thời gian, không
phải sẽ là thị trường.
Chúng
tôi đã có thịnh vượng trong một cách rất lớn – như có các cổ đông khác – bởi
mua lại cổ phiếu lớn của GEICO, Washington Post, và General Foods, 3 nắm giữ lớn
nhất của chúng tôi. (Exxon, trong cái chúng tôi có nắm giữ lớn nhất thứ 4,
ngoài ra có khôn ngoan và xông xáo mua lại các cổ phiếu nhưng, trong trường hợp
này, chúng tôi có duy nhất gần đấy thiết lập vị trí của chúng tôi. ) Trong mỗi
doanh nghiệp này, các cổ đông đã có các lợi ích của họ trong các doanh nghiệp nổi
bật nâng cáo thiết yếu bởi mua lại tại mức giá hời. Chúng tôi cảm thấy rất thoải
mãi các lợi sở hữu trong các doanh nghiệp như vậy điều này đưa ra kinh tế suất
sắc kết hợp với những quản lý cổ đông có ý thức.
Bảng
sau đây trình bài chứng khoán ròng cuối năm 1984 trong thị trường vốn. Tất cả
các con số loại trừ các quyền lợi tính cho các cổ đông thiểu sổ của Wesco và
Nebraska Furniture Mart.
Nó
đã hơn 10 năm kể từ khi nó đã là khó khăn bây giờ tới tìm kiếm các đầu tư vốn
mà phù hợp cả 2 tiêu chuẩn chất lượng và các tiêu chuẩn số lượng của chúng tôi ở
giá cả so với giá trị. Chúng tôi cố gắng tránh thỏa hiệp ở các tiêu chuẩn này,
mặc dù chúng tôi nhận thấy không làm gì cả nhiệm vụ khó khăn nhất ở tất cả. (một
chính khác nước Anh quy sự vĩ đại nước ông trong thế kỷ 19 thực hiện một chính
sách ‘’masterly inactivity’’. Điều này là một chiến lược đơn giản hơn nhiều đối
với sử gia tới khen ngợi hơn là đối với người tham gia sau này.)
Nebraska
Furniture Mart
Năm
ngoái tôi đã giới thiệu tới bạn về Mrs. B (Rose Blumkin) và gia đình của bà.
Tôi đã nói tới bạn họ tuyệt vời, và tôi đã nói bớt trường hợp. Sau môt năm nữa ở
sự quan sát các tài năng vượt trội và cá tính của họ, tôi có thể thành thật nói
rằng tôi chưa bao giờ đã nhìn thấy một nhóm quản lý mà cả những chức năng hoặc
vận hành tốt hơn so với gia đình Blumkin.
Mrs.
B, chủ tịch hội đồng, bây giờ 90 tuổi, và mới đây được trích dẫn trong tờ báo địa
phương bằng câu nói ‘’ I come home to eat and sleep, and that’s about it. I
can’t wait until it gets daylight so I can get back to the business’’. Mrs. B ở
cửa hàng 7 ngày một tuần, từ mở cửa tới đóng cửa, và có lẻ thực hiện nhiều quyết
định trong một ngày hơn là hầu hết các CEOs làm trong một năm.
Trong
tháng 5 Mr.s đã được công nhận tiến sỹ danh dự trong nghiên cứu thương mại bởi
đại học New York. (Bà là một sinh viên ‘’fast track’’: không một ngày trong cuộc
sống của bà được tiêu dùng trong một phòng học trước khi bà nhận được bằng tiến
sĩ. ) Những người nhận trước đây ở tấm bằng danh dự trong kinh doanh từ NYU bao
gồm Clifton Grain, Jr., CEO của Exxon Corp; Walter Wriston, khi đó CEO của
Citicorp; Frank Carry, khi đó CEO của IBM: Tom Murphy, khi đó CEO của General
Motors; và, gần đây nhất, Paul Volcker. (họ ở trong công ty tốt)
Dòng
máu Blumkin đã không chảy yếu. Louie, Mrs. B’son, và 3 người em của ông, Ron,
Irv, và Steve, tất cả góp phần trong tất cả đo lường thành công kinh ngạc của
NFM. Thế hệ trẻ đã tham gia trường kinh
doanh tốt nhất – được dẫn đường bởi Mrs. B và Louie – và sự dạy dỗ của họ là bằng
chứng trong hiệu quả của họ.
Năm
ngoái doanh thu ròng của NFM tăng thêm bằng $14,3 triệu mang tới tổng $115 triệu, tất cả từ một cửa hàng trong
Omaha. Điều đó cho đến nay khối lượng lớn nhất được tạo ra bởi một cửa hàng thiết
bị gia đình trong nước Mỹ. Thực tế, lợi nhuận trong doanh thu năm ngoái tự bản
thân nó lớn hơn so với khối lượng hằng năm của nhiều cửa hàng thành công khá lớn.
Doanh nghiệp đạt được thành công này tại vì nó xứng đáng thành công này. Một
vài con số sẽ nói tới bạn tại sao.
Trong
tài khóa 1984 10-k, người bán lẻ chuyên môn độc lập lớn nhất trong nước, Levitz
Furniture, đã miêu tả các giá cả của nó như ‘’generally lower than the prices
charged by conventional furniture stores in its trading are’’. Levitz, trong
năm đó, đã hoạt động tại lợi nhuận gộp 44,4% (điều đấy là, trên trung bình, những
người tiêu dùng đã chi trả nó $100 cho hàng hóa mà đã có chi phí nó $55,6 thuộc
về mua). Lợi nhuận gộp tại NFM là không nhiều hơn một nửa số đó. Đánh dấu giá
thấp của NFM là có thể thực hiện được tại vì hiệu quả kỳ vọng của nó: các chi
phí hoạt động (tiền lương, tiền thuê, quảng cáo, etc. ) khoảng 16,5% giá bán so
với 36,5% tại Levitz.
Không
ai trong số này chỉ trích Levitz, cái có một hoạt động quản lý tốt. Nhưng hoạt
động NFM đơn giản là khác thường (và, nhớ rằng, nó tất cả đến từ một đầu tư
$500 bởi Mrs. B trong năm 1937). Do hiệu quả chưa từng có và sắc sảo khối lượng
mua, NFM có khả năng kiếm được lợi nhuận trên vốn tuyệt vời trong khi tiết kiệm
khách hàng của nó tối thiểu $30 triệu hằng năm từ những gì, trung bình, nó sẽ
tiêu tốn tới họ mua hàng hóa tương tự tại các cửa hàng duy trì kiểu mark-ups[1]. Các tiết kiệm
như vậy bảo đảm NFM tới tiếp tục mở rộng phạm vi địa lý và theo đó tới tăng trưởng
có được tốt xa hơn tăng trưởng tự nhiên ở thị trường Omaha.
Tôi
đã hỏi một số người chỉ ra những bí mật Blumkins mang vào doanh nghiệp của họ. Ở
đây không hết sức bí truyền. Tất cả các thành viên gia đinh: (1) chuyên tâm
chính bản thân họ với một sự nhiệt tình và sinh lực mà khiến Ben Franklin và
Horatio Alger có vẻ bỏ học nửa chừng. (2) xác định rõ đối với hiện thực phi thường
khu vực của họ ở khả năng đặc biệt và kiên định hành động trên tất cả các vấn đề
trong phạm vi; (3) lờ đi thậm chí hầu hết các đề nghị dụ dỗ thất bại bên ngoài
về điều đó ở khả năng đặc biệt; và, (4) luôn luôn hoạt động trong một cách cao
cấp với mọi người họ đối phó. (Mrs. B tóm lại ‘’sell cheap và tell the truth’’.
)
Sự
định giá của tôi ở tính chính trực của Mrs. B và gia đình của bà được chính
minh khi chúng tôi mua 90% doanh nghiệp: NFM đã không bao giờ có một kiểm toán
và chúng tôi đã không đòi hỏi kiểm toán; chúng tôi không mất một hàng tồn kho
cũng không thẩm tra các khoản phải thu; chúng tôi không kiểm tra quyền sở hữu đất
đai. Chúng tôi gửi tới Mrs. B một tấm séc $55 triệu và bà gửi tới chúng tôi chữ
viết của bà. Điều đó khiến giao dịch sòng phẳng.
Bạn
và tôi may mắn tới mối quan hệ đối tác với gia đình Blumkin..
See’s
Candy shops, Inc.
Dưới
đây là tóm tắt thường lệ của chúng tôi ở hiệu suất See bắt đầu từ khi mua bởi
Blue Chip Stamps:
Hiệu
suất này đã không đem lại bằng một xu hướng đang lên thông thường. Điều trái
ngược, nhiều người tham gia nổi tiếng trong ngàng hộp chocolate không mất tiền
trong thời gian tương tự này hoặc đã có lợi nhuận nhỏ. Tới sự hiểu biết chúng
tôi, chỉ có một đối thủ cạnh tranh to lớn đã đạt được khả năng sinh lời cao.
Thành công của See phản ánh sự kết hợp của sản phẩm kỳ vọng, một người quản lý
kỳ vọng, Chuck Huggnins.
11/10/2015
Trong thời gian năm 1984, chúng tôi
tăng giá ít đáng kể so với đã thực hiện trong các năm gần đây: mỗi – pound bán
là $ 5.49, chỉ tăng 1.4% từ năm 1983. May mắn, chúng tôi đã phát triển tốt
trong kiểm soát chi phí, một phạm vi gây ra các vấn đề của chúng tôi trong các
năm gần đây. Chi phí mỗi pound[2] - khác hơn các
nguyên liệu thô đó, một phân khúc chi phí bên ngoài lớn ở kiểm soát chúng tôi
tăng thêm chỉ bằng 2,2% năm ngoái.
Vấn đề kiểm soát chi phí của chúng
tôi đã tệ hơn bởi vấn đề số lượng suy giảm một ít (được đo lường bởi pounds,
không phải $) trên cơ sở cửa hàng tương tự. Tổng pounds đã bán thông qua cửa
hàng trong các năm gần đây đã được duy trì tại mức cố định xấp xỉ chỉ bởi thêm
ròng một vài cửa hàng hằng năm. Nhiều cửa hàng hơn để có được vị thế khối lượng
giống nhau vốn dĩ đặt nặng sức ép trên các chí phí bán hàng mỗi pounds.
Trong năm 1984, số lượng cùng một cửa
hàng giảm 1.1%. Tổng khối lượng cửa hàng, tuy vậy, tăng 0,6% tại vì tăng thêm cửa
hàng
Kinh doanh của See hướng tới có được
một ít theo mùa mỗi năm. Trong 4 tuần trước khi Christmas, chúng tôi làm 40% khối
lượng của năm và kiếm được khoảng 75% lợi
nhuận của năm. Chúng tôi ngoài ra kiếm được số tiền đáng kể trong thời gian
ngày Easter và Valentine, nhưng khá nhiều sóng bước phần còn lại của năm. Trong
các năm gần đây, khối lượng cửa hàng tại ngày Christmas đã tăng trưởng tương đối
quan trọng, và thậm chí có các đơn hàng chất lượng qua người đặt và mail. Tăng
thêm tập trung của doanh nghiệp trong giai đoạn Christmas sinh ra vô số các vấn
đề quản lý, tất cả trong số đó đã được Chuck và cộng sự của anh ấy đảm nhiệm với
kỹ năng và thái độ nổi bật.
Các giải pháp của họ có không theo
hướng cần phải thỏa hiện trong hoặc chất lượng dịch vụ hoặc chất lượng sản phẩm.
Hầu hết các đối thủ cạnh tranh lớn có thể không nói như thế. Mặc dù đối mặt với
một chút ít khắc nghiệt đỉnh và thung
lũng cầu hơn chúng tôi, họ thêm vào các chất bảo quản hoặc đông lạnh sản phẩm
cuối cùng nhằm giải quyết chu kỳ sản xuất và theo đó các chi phí đơn vị thấp
hơn. Chúng tôi loại bỏ các kỹ thuật, chọn
lựa đó, trên thực tế, cho sản xuất nhức đầu hơn là sản phẩm biến đổi.
Các cửa hàng phố mua sắm lớn của
chúng tôi đối mặt số đông thức ăn mới và nhà cung cấp đồ ăn nhẹ mà đưa ra rất
nhiều cạnh tranh mạnh mẽ cụ thể tại những ngày non - holiday. Chúng tôi cần phải
các sản phẩm mới phản công và trong năm 1984 chúng tôi giới thiệu 6 thanh kẹo
mà, nhìn chung, đáp ứng với sự đón nhận tốt. Các sự giới thiệu sản phẩm thêm nữa
được lên kế hoạch.
Trong năm 1985 chúng tôi sẽ tăng cường
nỗ lực bản thân tới giữ chi phí mỗi pound tăng thêm dưới tỷ lệ lạm phát. Tiếp tục
thành công trong các nỗ lực này, tuy vậy, sẽ đòi hỏi tăng hoa hồng trong cùng một
cửa hàng. Giá cả trong năm 1985 sẽ trung
bình 6% - 7% bên trên năm 1984. Giả sử không có sự thay đổi trong khối lượng cửa
khách giống nhau, lợi nhuận nên cho thấy mức tăng vừa phải.
Buffalo Evening News
Lợi nhuận tại News trong năm 1984 lớn
hơn đáng kể so với chúng tôi đã kỳ vọng. Như tại New, sự tiến bộ xuất sắc đã tạo
ra kiểm soát chi phí. Loại trừ thời gian làm việc trong văn phòng tòa soạn, tổng
thời gian lao động giảm đi khoảng 2,8%. Với hiệu suất cải thiện này, tổng các
chi phí tăng thêm chỉ 4,9%. Thực hiện điều này bởi Stan Lipsey và nhóm quản lý
của anh là một trong những nhóm tốt nhất trong ngàng.
Tuy vậy, chúng tôi bây giờ đối mặt
tăng thêm nhanh chóng trong các chi phí. Trong giữa năm 1984 chúng tôi đã ký
các hợp đồng công đoàn nhiều năm mới mà đưa ra cho một quy mô ‘’catch – up ‘’
tiền lương tăng thêm. Catch – up này hoàn toàn thích hợp: tinh thần hợp tác ở
công đoàn chúng tôi trong giai đoạn không thuận lợi 1977 – 1982 là một nhân tố
quan trọng thành công trong duy trì chi phí cạnh tranh với Courier – Express. Nếu
chúng tôi không giữ được các chi phí giảm, kết quả của sự đấu tranh này có thể cũng
đã khác.
Tại vì các hợp đồng công đoàn mới có
hiệu lực tại các ngày khác nhau một ít
tăng thêm catch – up được phản ánh trong các chi phí của chúng tôi năm 1984. Nhưng
sự tăng thêm sẽ hầu hết hoàn toàn hiệu lực trong năm 1985 và, theo đó, chi phí
mỗi lao động của chúng tôi sẽ gia tăng trong năm nay tại một tỷ lệ cao hơn đáng
kể so với ngàng. Chúng tôi kỳ vọng giảm nhẹ sự tăng thêm nay bởi tiếp tục các lợi
ích nhỏ trong năng suất, nhưng chúng tôi không thể tránh các chi phí tiền lương
cao hơn đáng kể năm nay. Xu hướng giá cả giấy báo in cũng ít thuận lợi bây giờ,
so với chúng trong năm 1984. Chủ yếu tại vì ở 2 nhân tố này, chúng tôi nghĩ rằng
chí ít một co nhỏ trong lợi nhuận tại News.
Làm
việc ưu thích của chúng tôi tại News là 2 nhân tố quan trọng của tầm quan trọng
kinh tế chủ yếu.
1) Tổng số phát hành được
tập trung tới một mức độ khác thường trong khu vực tiện ích tối đa tới những
nhà quảng cáo của chúng tôi. Báo “Regional” với lượng phát hành phạm vi rộng, mặt
khác, có một phần chia đáng kể ở lượng phát hành của họ trong khu vực mà là tiện
ích không đáng kể tới hầu hết những nhà quảng cáo. Một người đăng ký cách xa
vài trăm dặm là không nhiều về một khách hàng tiềm năng cho con chó bạn đang
chào bán qua mục rao vặt trong quảng cáo – cũng không tạp phẩm với các cửa hàng
duy nhất trong chỉ trong khu vực đô thị. Tổng số phát hành “Wasted” – như những
nhà quảng cáo gọi nó – tổn thương khả năng sinh lời: chi phí của một tờ báo được
xác định ở mức độ lớn bởi toàn bộ lượng phát trong khi doanh thu quảng cáo
(thông thường 70% - 80% tổng doanh thu) đáp lại chỉ duy tới lượng phát hành có
ích.
2) Sự thâm nhập của
chúng tôi ở thị trường bán lẻ Buffalo là ngoại lệ; những nhà quảng cáo có thể
vươn tới hầu hết tất cả các khách hàng tiềm năng của họ sử dụng duy nhất News.
Năm ngoái tôi đã nói với bạn về sự chấp nhận người đọc đáng
chú ý: giữa 100 tờ báo lớn nhất nước, chúng tôi khi đó số 1, hằng ngày, và số
3, Sunday, trong sự thâm nhập. Hầu hết các con số gần đây diễn tả vị trí số 1
trong sự thâm nhập trong ngày thường và thứ 2 trong Sunday. (Mặc dù vậy, con số
các hộ gia định trong Buffalo đã suy giảm, thậm chí lượng phát hành ngày thường
hiện hành nhỏ xuống; Sundays nó là không thay đổi)
Tôi đã nói với bạn rằng một lý do quan trọng cho sự chấp nhận
khác thường bởi người đọc là chất lượng khác thường của tin tức chúng tôi cung
cấp tới họ: một phần trăm lớn hơn ở tờ báo chúng tôi đã dành cho tin tức hơn là
trường hợp tại bất cứ tờ báo chi phối khác trong phạm vi kích thích của chúng
tôi. Trong năm 1984, tỷ lệ “news hole” là 50,9%. (so với 50,4% năm 1983), một mức
trên nhiều tiêu biểu 35% - 40%. Chúng tôi tiếp tục duy trì tỷ lệ này trong phạm
vi 50%. Ngoài ra, mặc dù chúng tôi năm ngoái giảm tổng thời gian làm việc trong
các phòng ban khác, chúng tôi duy trì mức độ nhân viên trong phòng biên tập tin
tức và, lần nữa, sẽ tiếp tục làm như vậy. Chi phí phòng biên tập tin tức tăng
9,1% trong năm 1984, một gia tăng lớn hơn nhiều tăng thêm chi phí toàn bộ 4,9%.
Chi phí chính sách new hole chúng tôi tăng tiền đáng kể cho
giấy in báo. Như một kết quả, các chi phí tin tức bằng một % doanh thu cao hơn
hầu hết các tờ báo chủ đạo quy mô chúng tôi. Chỗ đó là phạm vi thích ứng, tuy vậy,
cho các tờ báo của chúng tôi hoặc bất cứ tờ báo chi phối khác duy trì chi phí
này: sự khác biệt giữa chi phí tin tức “cao” và “thấp” tại các tờ báo so sánh
quy mô hoạt động có lẽ 3 điểm % trong khi lợi nhuận trước thuế thường 10 lần.
Tính kinh tế của một tờ báo chiếm chi phối
là tuyệt vời, giữa cái tốt nhất trong thế giới kinh doanh. Những người sở hữu,
đương nhiên, sẽ thích tin tưởng rằng khả năng sinh lời kỳ diệu của chúng kiếm
được duy chỉ tại vì chúng luôn luôn bật ra sản phẩm kỳ diệu. Lý thuyết thoải
mãi đó nản lòng trước một thực tế không thoải mãi. Trong khi các tờ báo hạng nhật
tạo ra lợi nhuận tuyệt vời, lợi nhuận các tờ báo hạng 3 tốt hoặc tốt hơn – miễn
là cả 2 vượt trội trong phạm vi cộng đồng của nó. Dĩ nhiên, chất lượng sản phẩm
có thể là quyết định tới tờ báo trong đạt được sự vượt trội. Chúng tôi tin tưởng
điều này là trường hợp tại News, trong phần rất lớn, tại vì những người như
Alfred Kirchhofer người đã đi trước chúng tôi.
Khi mà tính vượt trội, tờ báo bản thân nó, không
trên thị trường, xác định đúng làm thế nào tốt hoặc làm thế nào xấu tờ báo sẽ
là. Tốt hoặc xấu, nó sẽ thành công. Điều đấy không đúng hầu hết các doanh nghiệp:
chất lượng sản phẩm tồi thông thường tạo ra tính kinh tế thấp kém. Nhưng thậm
chí một tờ báo nghèo là một giá hời tới hầu hết công dân đơn giản tại vì giá trị
“bảng thông báo” của nó. Các thứ khác như nhau, một sản phẩm nghèo nàn sẽ không
giành được hoàn toàn mức độ độc giả đạt được bởi một sản phẩm hạng nhất. Một sản
phẩm nghèo nàn, tuy vậy, sẽ vẫn còn cần thiết tới hầu hết công dân, và các mệnh
lệnh chú ý của chúng sẽ truyền được sự chú ý tới những người quảng cáo.
Từ khi các tiêu chuẩn cao hơn không được áp
đặt bởi thị trường quản lý phải áp đặt của riêng mình. Trách nhiệm chúng tôi tới
tiêu dùng bên trên trung bình cho các tin tức đại diện một tiêu chuẩn định lượng
quan trọng. Chúng tôi có tin tưởng rằng
Stan Lipsey và Murray Light sẽ tiếp tục áp dụng các tiêu chuẩn định lượng quan
trọng nhiều hơn. Charlie và tôi tin tưởng rằng các tờ báo là các tổ chức hết sức
đặc biệt trong xã hội. Chúng tôi tự hào về News, và ý định thậm chí sự kiêu
hãnh to hơn tới hợp lý trong các năm phía trước.
Insurance Operations (20/12)
Bảng dưới trình bày phiên bản cập nhật danh sách bảng thường dùng 2 con số chính cho
ngàng công nghiệp bảo hiểm
Dữ liệu của Best phản ánh sự trải
qua thực tiễn toàn bộ ngàng, bao gồm cổ phiếu, công ty đầu tư tín thác, và các
công ty tương hỗ. The combined ration = tổng các chi phí bảo hiểm (các thua lỗ
gánh chịu + các chi phí) / doanh thu từ phí bảo hiểm; tỷ lệ < 100 cho biết một
lợi nhuận bảo hiểm, và > 100 cho biết thua lỗ.
Đối với một số năm, chúng tôi có nói
với bạn rằng một tăng thêm hằng năm bởi ngàng 10% mỗi năm trong premiums
written là cần thiết cho combined ration đại thể không thay đổi. Chúng tôi đã giả định
trong thực hiện mà xác nhận các chi phí như phần trăm của khối lượng phí bảo hiểm
sẽ ở lại tương đối ổn định và các thua lỗ sẽ tăng trưởng khoảng 10% tại vì ảnh
hưởng kết hợp của tăng thêm khối lượng đơn vị, lạm phát, và các phát quyến tòa
án mà mở rộng bao phủ bởi chính sách bảo hiểm.
Quan điểm của chúng tôi đang xác nhận
thất vọng xác đáng: phí bảo hiểm tăng thêm 10% mỗi năm từ năm 1979 sẽ phải đem
lại một tổng tăng thêm đến hết năm 1984 bằng 61% và combined ration năm 1984 hầu
như giống hệt là 100.6 của năm 1979. Thay cho, ngàng chỉ có tăng thêm 30% trong
phí bảo hiểm và năm 1984 combined ration = 117.7. Ngày nay, chúng tôi tiếp tục
tin tưởng rằng chỉ số quan trọng tới xu
hướng của khả năng sinh lời bảo hiểm là % thay đổi năm này sang năm khác trong khối lượng phí bảo
hiểm ngàng.
Nó bây giờ xuất hiện rằng khối lượng
phí bảo hiểm năm 1985 sẽ tăng trưởng tốt trên 10%. Theo đó, giả định rằng các
tai ương là mức độ “thông thường”, chúng tôi sẽ kỳ vọng combined ration bắt đầu
dễ dàng xu hướng đi xuống cuối năm. Tuy vậy, dưới ảnh hưởng thua lỗ ngàng, 5
năm ở tăng thêm 15% trong phí bảo hiểm sẽ được cần đến để có combined ratio trở
về 100. Điều này có nghĩa một sự gấp đôi khối lượng ngàng bởi năm 1989, kết quả
dường như cao hơn không chắc tới chúng tôi. Thay vào đó, chúng tôi kỳ vọng vài
năm ở tăng phí bảo hiểm một chút trên
10%, theo sau bởi định giá cạnh tranh cao hơn rằng thông thường sẽ tạo ra
combined rations trong phạm vi 109 – 113.
Combined ration năm 1984 thấp kém là
134. Đây là năm thứ 3 trong một dòng mà
hiệu suất bảo hiểm của chúng ta đã bị nghèo hơn ngàng. Chúng tôi kỳ vọng cải
thiện trong combined ration trong năm 1985, và ngoài ra kỳ vọng sự tiến bộ của
chúng tôi về căn bản lớn hơn ngàng. Mike Goldberg đã có điều chỉnh nhiều ở các
sai lầm tôi đã thực hiện trước khi anh ấy tiếp nhận hoạt động bảo hiểm. Ngoài
ra, kinh doanh của chúng tôi tập trung trong các đường mà có trải nghiệm nghèo
hơn so với các kết quả trung bình trong thời gian 1 thập kỷ qua, và rằng các
hoàn cảnh đã có bắt đầu tới chinh phục nhiều đối thủ cạnh tranh của chúng tôi,
và thậm chí loại bỏ một số. Với rung lắc cạnh tranh, chúng tôi khả năng trong
thời gian một nửa năm 1984 gia tăng giá đáng kể trong các đường quan trọng chắc
chắn với một ít thua lỗ của doanh nghiệp.
Nhiều năm tôi đã nói với bạn rằng điều
đó có thể 1 ngày trở nên khi trên hết sức mạnh tài chính sẽ tạo một sự khác biệt
thực tế trong vị thế cạnh tranh của hoạt động bảo hiểm. Ngày đó có thể đã vừa đến.
Chúng tôi hầu hết không có câu hỏi hoạt động bảo hiểm tài sản/tai nạn lớn nhất
trong nước, với một vị thế vốn cao hơn nhiều ở các công ty danh tiếng với quy mô lớn hơn.
Quan trọng không kém, chính sách
công ty giữ lại điều tốt hơn. Người mua bảo hiểm không chỉ nhận một lời cam kết
trong trao đổi với tiền mặt của anh ta.
Giá trị của cam kết nên được định giá dựa vào khả năng những điều không may,
không phải sự thịnh vượng. Ở mức tối thiểu, sự cam kết nên xuất hiện khả năng
chống lại một sự kết hợp kéo dài ở các thị trường tài chính suy yếu và các kết
quả bảo lãnh không tốt tất thường. Các công ty con bảo hiểm vừa sẵn sàng và vừa
khả năng giữa các cam kết của họ trong bất cứ môi trường như vậy – và không quá
nhiều các công ty khác rõ ràng.
Sức mạnh tài chính của chúng tôi là
một tài sản cụ thể trong kinh doanh ở các cấu trúc thỏa thuận và dự trữ thua lỗ
những chứng minh chúng tôi đã phân tích năm ngoái. Nguyên đơn trong một cấu
trúc thỏa thuận và công ty bảo hiểm đó có tái bảo hiểm dự trữ thua lỗ cần hoàn
toàn tự tin các thanh toán thập kỷ sắp tới. Rất ít các công ty trong lĩnh vực
tài sản/tai nạn có thể phù hợp bài kiểm tra này ở không nghi vấn sức mạnh dài hạn.
Chúng tôi có tăng trưởng trong các
dòng hoạt động mới này: các nguồn so chúng tôi nắm giữ tới bù đắp tăng trưởng nợ
phải trả từ $16,2 triệu tới $30,6 triệu trong khoảng thời gian một năm. Chúng
tôi kỳ vọng tăng trưởng tiếp tục và có lẽ đẩy nhanh đáng kể. Tới hỗ trợ tăng
trưởng dự án này chúng tôi đã có thêm căn bản vốn tới công ty bảo hiểm
Columbia, đơn vị tái bảo hiểm chuyên về cấu trúc thỏa thuận và giả định dự trữ
thua lỗ. Trong khi các công ty này rất cạnh tranh, lợi nhuận nên thỏa đáng.
Các tin tức ở GEICO, như thường lệ,
hầu hết tốt. Công ty đã hoàn thành xuất sắc tăng trưởng đơn vị trong các công
ty bảo hiểm hàng đầu của nó trong năm 1984, và hiệu quả ở danh mục đầu tư tiếp
tục đặc biệt. Mặc dù các kết quả bảo lãnh xấu hơn cuối năm, họ vẫn còn duy trì
tốt hơn so với cái ở ngàng. Phần sở hữu của chúng ta trong GEICO tại thời điểm
cuối năm lên tới 36% và theo đó lợi ích trực tiếp chúng ta trực tiếp trong khối
lượng phí bảo hiểm tài sản/ tai nạn $885 triệu lên tới $320 triệu, hoặc tốt hơn
gấp đôi khối lượng phí bảo hiểm của chúng ta.
Tôi đã phân tích tới bạn trong quá
khứ vài năm trước rằng hiệu quả của cổ phiếu GEICO có đáng kể vượt quá mà hiệu
quả kinh doanh của công ty, rực rỡ sau này đã được. Trong các năm đó, giá trị
thực hiện đầu tư ở GEICO vào bảng cân đối kế toán chúng ta tăng trưởng tại tỷ lệ
lớn hơn tăng trưởng trong giá trị nội tại GEICO. Tôi đã cảnh báo bạn rằng qua
hiệu quả bằng cổ phiếu liên quan tới hiệu quả của doanh nghiệp rõ ràng không thể
xuất hiện mỗi năm, và rằng trong nhiều năm cổ phiếu phải hoạt động kém kinh
doanh. Trong năm 1984 đã xuất hiện và giá trị thực hiện vào lợi ích của chúng
tôi trong GEICO đã thay đổi khắc nghiệt ở tất cả, trong khi giá trị nội tại
doanh nghiệp ở đó lợi ích tăng thêm đáng kể. Từ 27% giá trị ròng của Berkshire bắt đầu năm 1984
đã biểu thị qua GEICO, giá trị thị trường tĩnh của nó có một tác động đáng kể
vào tỷ lệ tăng cho năm. Chúng tôi không tất cả không hạnh phúc với một kết quả
như thế: chúng tôi sẽ xa hơn, có doanh nghiệp giá trị ở GEICO tăng thêm bằng X
trong khoảng thời gian 1 năm, trong khi giá trị thị trường suy giảm, so với có
giá trị nội tại tăng thêm chỉ bởi ½ X với giá trị thị trường bay vọt. Trong trường
hợp GEICO, như trong tất cả các đầu tư của chúng tôi, chúng tôi mong đợi hiệu
quả doanh nghiệp, không phải hiệu quả thị trường. Nếu chúng tôi đúng trong các
mong đợi liên quan doanh nghiệp, thị trường thực tế sẽ theo sau.
Bạn, như các cổ đông của Berkshire,
đã được lợi to lớn từ những tài năng của GEICO Jack Byrne, Bill và Lou Simpson.
Trong kinh doanh cốt lõi của nó – bảo hiểm homewners và ô tô giá thấp – GEICO
có một lợi thế lớn, chịu được cạnh tranh. Đó là một tài sản hiếm có trong doanh
nghiệp nói chung, và nó hầu như không tồn tại trong lĩnh vực dịch vụ tài
chính.( GEICO, bản thân nó, điển hình điểm này: mặc dù quản lý suất sắc công
ty, khả năng sinh lời tốt hơn đã lản tránh GEICO trong tất cả sự cố gắng khác
so với kinh doanh cốt lõi của nó). Trong ngàng công nghiệp lớn, một lợi thế cạnh
tranh giống như GEICO đưa ra một tiềm năng cho các phần thưởng kinh tế đặc sắc,
và Jack và Bill tiếp tục phô diễn kỹ năng tuyệt vời trong thực tế tiềm năng đó.
Hầu hết các nguồn lực được tạo bởi
hoạt động bảo hiểm cốt lõi GEICO được tạo ra sẵn sàng tới Lou cho đầu tư. Lou
có sự kết hợp hiếm có ở nét đặc trưng thất thường và trí tuệ mà đưa ra hiệu quả
đầu tư dài hạn nổi bật. Hoạt động với rủi ro thấp hơn trung bình, anh đã tạo ra
những lợi nhuận mà xa hơn tốt nhất trong ngàng bảo hiểm. Tôi ủng hộ và đánh giá
cao các nỗ lực và tài năng của 3 người quản lý nổi bật đó.
Errors in Loss Reserving
Bất cứ cổ đông trong một công với với
các lợi ích quan trọng trong doanh nghiệp bảo hiểm tài sản/ tai nạn sẽ nên có
nhiều hiểu biết cố hữu trọng yếu trong tường thuật ở thu nhập hiện nay trong
ngàng. Phil Graham, khi người xuất bản ở Washington Post, được tờ báo hằng ngày
miêu tả như” a first rough draft of history”. Thật không may, các báo cáo tài
chính của công ty bảo hiểm tài sản/ tai nạn cung cấp, lúc tốt nhất, chỉ duy nhất
một bản dự thảo thô của các điều kiện thu nhập và tài chính.
Xác định các chi phí là vấn đề
chính. Hầu hết các chi phí một công ty bảo hiểm kết quả từ gánh vác bồi thường
và nhiều thua lỗ đó nên được tính vào đối với doanh thu năm hiện tại là khó
khăn đặc biệt tới dự đoán. Đôi khi mở rộng thua lỗ đó, hoặc thậm chí sự tồn tại
của chúng, không được nhận biết trong hàng thập kỷ.
Chi phí tổn thất trong báo cáo kết
quả kinh doanh hiện tại của công ty bảo hiểm tài sản/ tai nạn miêu tả: (1) lỗ
xuất hiện và được trả trong năm; (2) ước lượng đối với các khoản lỗ xuất hiện
và được báo cáo tới công ty bảo hiểm trong thời gian năm, nhưng cái đó có hay
chưa đã được giải quyết. (3) Dự báo các chi phí $ cuối cùng cho khoản lỗ xuất
hiện trong năm nhưng công ty bảo hiểm không biết; và (4) ảnh hưởng ròng ở sự
xem xét lại năm này ở các dự đoán tương tự cho (2) và (3) được thực hiện trong
quá khứ.
Sự xem lại đó có thể được trì hoãn
dài, nhưng thực tế bất cứ dự đoán các khoản lỗ đó căn nguyên thu thập cho năm X
tới năm X + 10 tới trình bày sai có thể được hiệu chỉnh, có hay không năm X +
1, hoặc X + 10. Điều này, tất yếu, nghĩa rằng các thu nhập trong năm hiệu chỉnh
cũng được trình bày sai. Ví dụ, giả định một bồi thường tai nạn bởi một công ty
bảo hiểm của chúng ta năm 1979 và chúng ta nghĩ một sự giải quyết khả năng phải
thực hiện $10 000. Năm đấy chúng ta sẽ có ghi nợ $10.000 tới báo cáo kết quả
kinh doanh cho chi phí được dự đoán ở khoản lỗ và, tương ứng, lập dự phòng nợ
phải trả trên bảng cân đối kế toán cho số tiền đó. Nếu chúng ta đã thanh toán bồi
thường trong năm 1984, chúng ta sẽ tính các thu nhập với một chi phí thua lỗ bằng
$90.000 trong năm 1984, mặc dù chi phí thực sự một chi tiêu năm 1979, chúng tôi
sẽ có sai lầm tệ hại như vào các chi phí, và bạn như vào các thu nhập.
Số lượng lớn nhất thiết dùng đánh
giá trong thu nhập các con số xuất hiện trong đánh giá rõ ràng lừa dối hình
thành trong báo cáo kết quả kinh doanh ở các công ty property/ casualty trung
bình mà nhiều sai lầm phải thấm vào, cho dù làm thế nào phù hợp mục đích của
người quản lý. Trong một cố gắng tới sai xót tối thiểu, hầu hết các công ty bảo
hiểm sử dụng các kỹ thuật phân tích khác nhau tới điều chỉnh hàng nghìn đánh
giá thua lỗ cá biệt bao gồm nguyên liệu thô cho ước lượng ở tổng nợ phải trả.
Thêm những dự trữ được tạo ra bởi được điều chỉnh này được dán nhãn riêng
“bulk”, “development”, hoặc “supplemental” reserves. Mục đích của các điều chỉnh
nên là một tổng dự trữ thua lỗ mà có may mắn 50-50 được chứng mình là 1 trong 2
cao không đáng kể hoặc thấp không đáng kể khi tất cả các thua lỗ được xuất hiện
trước ngày báo cáo tài chính cuối cùng được nộp.
Tại Berkshire, chúng tôi đã có tính vào những gì chúng tôi nghĩ là
thích hợp bổ sung dự trữ nhưng trong các năm gần đây chúng đã không còn thích
đáng. Nó là điều quan trọng rằng bạn biết tính trọng yếu của các sai xót đó đã
có liên quan trong dự trữ của chúng tôi. Bạn có thể theo đó nhìn cho chính bản
thân làm thế nào mơ hồ phương pháp, và ngoài ra xét đoán có hay không chúng tôi
có nhiều sai số hệ thống mà sẽ tạo nên bạn thận trọng ở các con số hiện tại và
tương lai.
Bảng dưới đây diễn tả các kết quả từ
bảo lãnh bảo hiểm như chúng tôi có trình bày tới bạn trong các năm gần đây, và
ngoài ra gửi tới bạn tính toán năm trước dựa trên cơ sở” If we knew then what
we think we know now”. Tôi nói”what we think we know now” tại vì các con số điều
chỉnh vẫn còn bao gồm nhiều đánh giá quan trọng cho khoản lỗ đã xuất hiện trong
những năm đầu. Tuy vậy, nhiều yêu cầu từ những năm đầu đã có được giải quyết do
đó nội dung đánh giá 1 năm sau này chúng tôi bớt đi ước chừng công việc so với
đánh giá đầu năm
Giúp bạn hiểu biết bảng này, ở đây một
sự giải thích hầu hết các con số gần đây: năm 1984 lỗ bảo lãnh trước thuế $54,4
triệu bao gồm $27,6 triệu chúng tôi ước lượng rằng chúng tôi thua lỗ kinh doanh
năm 1984, + tăng thêm thua lỗ $17,8 triệu được phản ánh trong con số hiệu chỉnh
cho năm 1983.
Như bạn có thể nhìn từ xem xét lại bảng,
các sai sót của tôi trong báo cáo tới bạn có đáng kể và gần đây luôn luôn được
đại diện một bức tranh bảo lãnh tốt hơn so với hoàn cảnh thực tế. Điều này là
điểm bắt đầu ở sự thất vọng cụ thể tới tôi tại vì: (1) tôi thích dành cho bạn
khả năng tin tưởng những gì tôi nói; (2) những người quan lý bảo hiểm và tôi chắc
chắn hành động với ít sự gấp rút so với chúng tôi sẽ có chúng tôi hiểu biết đầy
đủ qui mô ở các khoản lỗ của chúng tôi; và (3) chúng tôi thanh toán thuế thu nhập
được tính toán trên cường điệu thu nhập và bằng cách ấy đưa chính phủ tiền mà
chúng tôi không cần để (Thanh toán vượt mức thực tế tốt bản thân chúng, nhưng
trì hoãn dài và chúng tôi không nhận lợi ích dựa trên số lượng chúng tôi đã nộp
thừa.)
Tại vì kinh doanh của chúng tôi là
trọng số đối với tai nạn và dòng tái bảo hiểm, chúng tôi có nhiều vấn đề trong
dự đoán các chi phí thua lỗ hơn so với các công ty mà cụ thể trong bảo hiểm tài
sản. Nhưng tôi vẫn còn nhận thấy các sai xót cản trở. Trong kinh doanh trực tiếp
của chúng tôi, chúng tôi có đánh giá không đúng mức rất nhiều xu hướng mọc lên
như nấm của các hội đồng xét xử và tòa án tới thực hiện nộp “deep pocket”, bất
chấp hoàn cảnh thực tế và các sự kiện tiền lệ quá khứ cho xác minh nợ phải trả.
Ngoài ra chúng tôi có đánh giá không đúng mức ảnh hưởng lây chuyền mà công khai
liên quan số tiền chi trả khổng lồ có trên ban bồi thẩm. Trong khu vực tái bảo
hiểm, ở đó chúng tôi đã có trải nghiệm tồi tệ nhất dưới dự trữ, các công ty bảo
hiểm khách hàng của chúng tôi đã tạo ra các sai lầm giống thế. Từ khi chúng tôi
thiếp lập dự trữ dựa trên thông tin họ cung cấp cho chúng tôi, các sai lầm của
họ trở thành các sai lầm của chúng tôi.
Tôi có nghe một câu chuyện thích hợp
tới các vấn đề kế toán bảo hiểm của chúng tôi: một người đàn công đang du lịch
nước ngoài khi đó anh nhận được một cuộc gọi chị gái anh ta thông báo rằng bố của
họ đã chết đột xuất. Thể chất không cho người em quay trở lại ngôi nhà cho đám
tang, nhưng anh ta nói với chị gái lo tổ chức đám tang và gửi hóa đơn tới anh ấy.
Sau khi trở lại ngôi nhà anh đã nhận được hóa đơn vài nghìn $, cái anh ấy nhanh
chóng thanh toán. Tháng tiếp theo hóa đơn khác đi cùng với $15, và anh chi trả
quá nhiều. Thêm tháng khác tiêp theo, với một hóa đơn tương tự: khi nào, trong
tháng tiếp theo, hóa đơn thứ 3 đã có mặt, anh đã gọi chị gái để hỏi những gì
đang diễn ra”oh” she said. “ I forgot to tell you. Chúng ta chôn cất bố trong một
giá thuê phù hợp.”’
Nếu bạn đã trong công ty bảo hiểm
trong những năm gần đây – cụ thể doanh nghiệp tái bảo hiểm – điều này câu chuyện
tai hại. Chúng tôi đã tới bao gồm tất cả ở “rented suit” nợ phải trả trong báo
cáo tài chính gần đây, nhưng ghi chép sai sót quá khứ sẽ làm chúng tôi thấp
kém, và bạn nghi ngờ. Tôi sẽ tiếp tục báo cáo tới bạn các sai sót, cộng hoặc trừ,
xuất hiện mỗi năm.
Không phải tất cả sai sót dự trữ
trong ngàng đã có sự đa dạng vô tội nhưng câm. Với các kết quả bảo lãnh tệ như
chúng đã có trong những năm gần đây - với
những người quản lý có càng nhiều sự thận trọng như họ làm trong sự trình bày ở
các báo cáo tài chính – nhiều khía cạnh không hấp dẫn ở bản chất con người đã
rõ ràng bản thân chúng. Các công ty đó sẽ ra khỏi kinh doanh nếu họ thực tế
đánh giá các chi phí thua lỗ có, trong nhiều trường hợp, đơn giản ưa thích nắm
một lạc quan phi thường nhìn về tổng chưa nộp. Các thứ khác có tham gia trong
các giao dịch khác nhau tới ẩn dấu các chi phí thua lỗ hiện tại.
Cả 2 tiếp cận này có thể “work” cho 1
thời gian đáng kể: các kiểm toán bên ngoài không thể kiểm soát hiệu quả báo cáo
tài chính ở các công ty bảo hiểm tài sản/ tai nạn. Nếu nợ phải trả của một công
ty bảo hiểm, nói một cách chính xác, sẽ lớn hơn tài sản, nó giảm xuống công ty
bảo hiểm tới tình nguyện thông tin ốm yếu này. Nói một cách khác, thi hài cần
có file chứng tử. Dưới “honor system” của tỷ lệ tử vong, tử thi thỉnh thoảng gửi
đến bản thân nó lợi ích ở sự nghi ngờ.
Trong hầu hết doanh nghiệp, dĩ
nhiên, các công ty vỡ nợ hết tiền mặt. Bảo hiểm là khác: bạn có thể túng quẫn
nhưng đột ngột. Từ tiền mặt thu về tại điểm bắt đầu ở một chính sách bảo hiểm
và thua lỗ bảo hiểm được trả quá nhiều sau này, các công ty bảo hiểm vỡ nợ
không cạn tiền tiền mặt trước khi lâu sau chúng cạn kiệt giá trị ròng. Trong thực
tế, “walking dead” thế này thường tăng cường thêm nỗ lực của họ tới write business,
chấp nhận hầu hết tất cả giá hoặc rủi ro, đơn giản giữ dòng tiền vào trong. Với
một thái độ như của người biển thủ người đã vung phí tiền đã bị ăn cắp quỹ của
anh ta, các công ty này hi vọng rằng bằng cách này hay cách khác họ có thể nhận
được may mắn trên đợt giao dịch tiếp theo và theo đó che đậy thâm hụt ban đầu. Thậm
chí nếu họ không có được may mắn, sự bất lợi người quản lý luôn luôn không lớn
hơn so với $100 triệu thâm hụt so với $10 triệu, trong khi chờ đợi, trong khi
thua lỗ người quản lý giữ công việc họ và tiền thua lao.
Sai sót thua lỗ - dự phòng của các
công ty bảo hiểm tài sản/tai nạn khác nhiều hơn so với học thuật liên quan tới
Berkshire. Không chỉ duy nhất Berkshire trải qua từ bán tại bất cứ giá cạnh
tranh bởi “walking dead”, nhưng ngoài ra chúng tôi trải qua khi tình trạng
không trả được nợ cuối cùng được thừa nhận. Thông qua các quỹ bảo lãnh nhà nước
khác nhau mà định giá tiền, Berkshire cuối cùng trả một phần chia vỡ nợ thiếu hụt
tài sản của công ty bảo hiểm, căng ra như họ thông thường bởi trì hoãn phát hiện
các kết quả từ báo cáo sai. Thậm chí nhiều khả năng cho rắc rối đổ xuống như
thác. Vỡ nợ của một vài công ty bảo hiểm lớn và các định giá bởi các quỹ bảo
lãnh nhà nước mà sẽ theo đó có thể đẩy vào tình trạng hiểm nghèo yếu ớt nhưng
mà các công ty bảo hiểm vỡ nỡ trước đó. Nguy hiểm như vậy có thể giảm nhẹ nếu
những quản lý nhà nước trở nên tốt hơn về xác định nhanh chóng và chấm dứt vỡ nợ
công ty bảo hiểm, nhưng sự tiến hành trong vấn đề này chậm.
Washington
Public Power Supply System
Từ tháng mười, 1983 đến tháng sáu,
1984 Các công ty con bảo hiểm của Berkshire tiếp tục mua khối lượng lớn trái
phiếu ở Projects 1, 2, và 3 của Washington Public Power Supply System
(“WPPSS”). Việc này cùng một thực thể, vào ngày 1/7/1983 đã vỡ nợ $2,2 tỷ trái
phiếu được phát hành tới tài trợ một phần xây dựng của Projects bây giờ bị bỏ
hoang 4 và 5. Trong khi chỗ đó khác biệt trọng yếu trong người giao ước, hứa hẹn,
và các tài sản làm cơ sở 2 loại trái phiếu, các vấn đề của Projects 4 và 5 có một
bóng đen nguy hiểm nên Projects 1,2, và 3, và có thể có lẽ gây ra các vấn đề
nghiêm trọng cho người phát hành sau này. Thêm vào đó, đã có vô số vấn đề liên
quan trực tiếp tới Projects 1,2 và 3 mà có thể làm yếu đi hoặc phá hủy vị thế
tín nhiệm lớn khác gia tăng từ các bảo lãnh bởi Bonneville Power
Administration.
Mặc dù ở đây có tiêu cực trọng yếu,
Charlie và Tôi đã phán xét các rủi ro tại thời điểm chúng tôi mua các trái phiếu
và tại mức giá Berkshire trả (thấp hơn nhiều giá hiện tại) tới đáng kể nhiều
hơn so với phần bù cho bởi triển vọng lợi nhuận.
Như bạn biết, chúng tôi mua cổ phiếu
thị trường cho các công ty bảo hiểm dựa vào tiêu chuẩn chúng tôi sẽ áp dụng
trong mua một doanh nghiệp thực thể. Phương pháp định giá doanh nghiệp này là
không phổ biến giữa nhà quản lý tiền tệ chuyên nghiệp và bị coi khinh bởi nhiều
học giả. Tuy nhiên, nó có đáp ứng người theo sau nó tốt. Đơn giản, chúng tôi cảm
thấy rằng nếu chúng tôi có thể mua phần nhỏ doanh nghiệp với thỏa mãn cơ bản
kinh tế tại một phần của giá trị mỗi cổ phiếu ở doanh nghiệp thực thể, một vài
điều tốt có khả năng xảy ra tới chúng tôi – đặc biệt nếu chúng tôi sở hữu nhóm
các chứng khoán như vậy.
Chúng tôi mở rộng phương pháp đánh
giá doanh nghiệp này tới mua các trái phiếu chẳng hạn WPSS. Chúng tôi so sánh
$139 triệu chi phí ở khoản đầu tư cuối năm trong WPPS tới một khoản đầu tư $139
tương tự trong một hoạt động doanh nghiệp. Trong trường hợp của WPPS, business”
giao kèo kiếm $22,7 triệu sau thuế (qua trả lãi suất dựa trên các trái phiếu),
và các thu nhập này có sẵn tới chúng tôi hiện thời trong tiền mặt. Chúng tôi
không có khả năng mua doanh nghiệp hoạt động với kinh tế gần thế. Duy nhất một
liên quan với kinh doanh kiếm được 16,3% sau thuế không đòn bẩy vốn rằng khoản
đầu tư WPPS của chúng tôi làm và kinh doanh đó, khi nào sẵn có mua, bán tại tiền
lãi lớn tới vốn. Trong giao dịch kinh doanh thương lượng, không đòn bẩy doanh
nghiệp thu được $22,7 sau thuế (tương ứng khoảng $45 triệu trước thuế) có thể
khiến phải mức giá $250 - $300 triệu (thỉnh thoảng nhiều hơn). Đối với một
doanh nghiệp chúng tôi hiểu biết tốt và khỏe như thế chúng tôi sẽ vui vẻ trả
nhiều hơn. Nhưng nó là gấp 2 giá chúng tôi trả thu được các thu nhập tương tự từ
các trái phiếu WPPS.
Tuy vậy, trong trường hợp của WPSS,
đó là những gì chúng tôi nhìn nhận tương lai rủi ro không đáng kể mà
“business” có thể là giá trị không có gì
trong khoảng thời gian 1 hoặc 2 năm. Chỗ đó còn rủi ro rằng các thanh toán quyền
lợi có thể ngắt quãng giai đoạn thời gian đáng kể. Hơn nữa, hầu hết “business”
có thể giá trị khoản $205 m mệnh giá ở các trái phiếu mà chúng tôi sở hữu, số
lượng chỉ cao hơn 48% so với giá chúng tôi trả.
Mức trần này vào tiềm năng phát triển
là một điểm trừ trọng yếu. Nó nên được hiểu rõ, tuy vậy, phần lớn hoạt động
kinh doanh bị giới hạn tiềm năng phát triển ngoài trừ khi nhiều vốn hơn tiếp tục
được đầu tư trong chúng. Rằng như vậy là vì hầu hết các doanh nghiệp không có
khả năng tận dụng ROE trung bình – thậm chí dưới các điều kiện lạm phát, thông
qua việc này trước đây nghĩ tới tự động gia tăng lợi nhuận.
(Hãy xô trái phiếu của chúng ta như
một ví dụ kinh doanh như một mức hơn nữa: nếu bạn chọn “giữ lại” thu nhập hằng
năm 12% trái phiếu bằng tiếp tục từ coupons tới mua nhiều trái phiếu hơn, thu
nhập ở kinh doanh trái phiếu đấy sẽ tăng trưởng ở mức tỷ suất so sánh tới hầu hết
doanh nghiệp kinh doanh rằng giống như tái đầu tư tất cả thu nhập. Trong trường hợp đầu tiên, trái phiếu 30 năm,
zero – coupon, 12% được mua hôm nay giá 10 triệu sẽ có giá trị $300 triệu năm
2015. Trong trường hợp thứ 2, $10 triệu kinh doanh mà thu nhập đều đặn 12% trên
vốn và giữ lại tất cả thu nhập tăng lên, cũng sẽ kết thúc với $300 triệu vốn
trong năm 2015. Cả 2 doanh nghiệp và trái phiếu sẽ kiếm được trên $32 triệu kết
thúc năm.)
Phương pháp chúng tôi tới đầu tư
trái phiếu – qua nó như một loại kinh doanh khác thường với các ưu điểm và nhược
điểm đặc biệt – có thể tấn công bạn một ít sự kỳ quặc. Tuy vậy, chúng tôi tin
tưởng rằng nhiều các sai sót loạng choạng do các nhà đầu tư có thể đã tránh được
nếu họ nhìn nhận đầu tư trái phiếu với quan điểm của một doanh nhân. Ví dụ,
trong năm 1946, các trái phiếu 20 năm AAA miễn thuế được giao dịch tại lợi tức
bên dưới 1% một ít. Trên thực tế, người mua trái phiếu này thời gian mua
“business” mà kiếm được 1% trên “giá trị sổ sách” và trả 100 cents trên một $
cho kinh doanh ghê tởm.
Nếu một nhà đầu có đầu óc kinh doanh
đủ suy nghĩ trong thời gian đó – và người đó tỉ mỉ thực tế ở mặc cả - anh ấy sẽ
cười vào các đề xuất và bỏ đi ngay lập tức. Bởi vì, cùng một lúc, doanh nghiệp
với viễn cảnh tương lai tuyệt vời có thể đã có mua tại, hoặc gần tới, giá trị sổ
sách khi lợi nhuận 10%, 12%, hoặc 15% sau thuế trên sổ sách. Có lẽ không một
doanh nghiệp Mỹ đã thay đổi các bàn tay trong năm 1946 tại giá trị sổ sách rằng
người mua tin tưởng không có khả năng kiếm nhiều hơn 1% trên sổ sách. Nhưng các
nhà đầu tư với thói quen mua trái phiếu hăm hở thực hiện trách nhiệm kinh tế suốt
năm chỉ trên cơ sở đó. Tương tự, thông qua ít vô cùng, các điều kiện thịnh hành
cho 2 thập kỷ tiếp theo như các nhà đầu tư trái phiếu hạnh phúc đăng ký cho 20
hoặc 30 năm căn cứ vào kỳ hạn không tương xứng xúc phạm đến các tiêu chuẩn
doanh nghiệp. (trong những gì tôi suy nghĩ cho đến nay cuốn sách tốt nhất về đầu
tư từng viết – “The intelligent Investor”, tác giả Ben Graham – khu vực cuối của chương mở đầu bắt đầu với, “Investment is
most intelligent when it is most businesslike.”” Khu vực này được gọi là “A
final Word”, và nó thích hợp tiêu đề)
Chúng tôi sẽ nhấn mạnh lần nữa rằng
chỗ đó không thể nghi ngờ được nhiều rủi trong trách nhiệm WPSS. Ngoài ra nó là
loại rủi ro mà khó khăn tới đánh giá. Là Charlie và tôi tới xử lý với 50 các
đánh giá giống nhau lên lifetime, chúng tôi sẽ kỳ vọng phán xét của chúng tôi
cung cấp thỏa đáng hợp lý . Nhưng chúng tôi không nhận được may mắn tới thực hiện
50 hoặc thậm chí 5 quyết định như vậy trong một năm riêng lẻ. Ngay cả các kết
quả dài hạn có thể hóa ra ổn, trong bất cứ năm nào chúng tôi chạy rủi ro mà
chúng tôi sẽ nhìn cực ngu ngọc (Đó là tại sao các câu này nói “Charlie and I”,
hoặc “We”)
Hầu hết những người quản lý có rất
ít khuyến khích để thực hiện sự thông minh nhưng với nhiều may mắn trông như một
quyết định của anh ngốc. Tỷ lệ lãi/ lỗ cá nhân của họ tất cả quá rõ ràng: nếu
quyết định khác thường thực hiện tốt, họ có được một cái vỗ nhẹ vào lưng, nếu
nó thực hiện xấu, họ nhận được phiếu màu hồng. (Nhược điểm thông thường là con
đường để đi; như một nhóm, lemmings có thể có hình ảnh rất đáng ghét, nhưng
không một cá nhân lemming đã bao giờ có nhận sự thúc ép xấu)
Sự cân bằng của chúng tôi là khác biệt.
Với 47% cổ phiếu Berkshire, Charlie và tôi không bao giờ lo lắng về việc bị xa
thải, và chúng tôi nhận những phần thưởng như những người sở hữu, không phải là
người quản lý. Theo đó chúng tôi cư xử với tiền của Berkshire như chúng tôi sẽ
làm với chúng tôi sở hữu. Điều đó thường xuyên dẫn chúng tôi tới hành vi trái
quy tắc giữa các đầu tư và quản lý doanh nghiệp nói chung.
Chúng tôi vẫn giữ nguyên trái nguyên
tắc trong phạm vi tới cái chúng tôi tập trung các đầu tư thuộc các công ty bảo
hiểm, bao gồm các trái phiếu WPPS đó. Sự tập trung này gây ra ý thức duy nhất
khi hoạt động bảo hiểm của chúng tôi được kiểm soát từ một vị thế sức mạnh tài
chính khác thường. Về hầu hết tất cả các công ty bảo hiểm khác, một sự so sánh
mức độ sự tập trung (hoặc bất cứ thứ gì
gần tới nó) sẽ là không thích hợp hoàn toàn. Vị thế nguồn vốn của họ là không đủ
chống lại một sai sót lớn, cho dù làm thế nào thu hút một cơ hội đầu tư có thể
xuất hiện khi phân tích dự trên cơ sở khả năng sinh lời.
Với sức mạnh tài chính chúng tôi có
thể sở hữu tảng lớn một vài chứng khoán mà chúng tôi nghĩ rất nhiều và mua tại
mức giá hấp dẫn. (Bill Rose đã miêu tả vấn đề trên sự đa dạng:” If you have a
harem of forty women, you never get to know any of them very well”). Theo thời
gian chính sách của chúng tôi tập trung nên đưa ra các kết quả tốt hơn, thông
qua đó sẽ kiếm chế bởi kích thước lớn của chúng tôi. Khi chính sách này đưa ra
thực một năm xấu, vì nó phải, ít nhất bạn sẽ biết rằng tiền của chúng tôi được
cam kết trên cơ sở giống của bạn.
Chúng tôi đã thực hiện phần lớn đầu
tư WPPSS tại các mức giá khác nhau và dưới
một chút khác biệt thực tế hoàn cảnh so với tồn tại hiện tại. Nếu chúng tôi quyết
định thay đổi quan điểm của chúng tôi, chúng tôi sẽ không nói cho các cổ đông
cho đến khi rất lâu sự thay đổi đã được thực hiện (chúng tôi có lẽ mua hoặc bạn
như bạn đọc điều này). Mua và bán chứng khoán là một kinh doanh cạnh tranh, và
thậm chí một số lượng vừa phải được cộng thêm cạnh tranh trên 2 bên có thể đòi
hỏi chúng tôi rất nhiều tiền. Mua sắm WPPSS miêu tả nguyên lý này. Từ tháng 10
năm 1983 tới tháng 6 năm 1984, chúng tôi cố gắng mua hầu hết tất cả các trái phiếu
mà chúng tôi có thể ở Projects 1, 2, và 3. Tuy nhiên chúng tôi đã mua chưa tới
3% các trái phiếu còn tồn tại. Chúng tôi đã đối mặt bình thản thêm một vài nhà
đầu tư có tiền tốt, đã khích động mua tại vì họ đã biết chúng tôi, chúng tôi có
thể kết thúc với một số lượng nhỏ hơn thiết yếu trái phiếu, được mua tại giá
cao hơn. Về lý do này, chúng tôi sẽ không bình luận về hoạt động trong các chứng
khoán – không phải với sức ép, cũng không với các cổ đông, cũng không bất cứ ai
khác – trừ khi pháp luật yêu cầu làm.
Một quan sát cuối cùng liên quan mua
sắm WPPS: chúng tôi không thích mua đại đa số các trái phiếu dài hạn dưới hầu hết
các điều kiện và đã mua rất ít trong các năm gần đây. Điều này tại vì các trái
phiếu như âm thanh của đồng $, và chúng tôi nhìn triển vọng dài hạn dành cho
các $ ảm đạm. Chúng tôi tin tưởng lạm phát đáng kể ở phía trước, mặc dùng chúng
tôi không có ý tưởng tỷ suất trung bình sẽ bật ra được. Hơn nữa, chúng tôi suy
nghĩ chỗ đó là nhỏ, nhưng không quan trọng, may mắn lạm phát rất dễ dàng.
Xác suất như thế có thể xem như vớ vẫn,
cân nhắc tỷ lệ lạm phát đã giảm xuống. Nhưng chúng tôi tin tưởng rằng chính
sách tài khoán hiện tại – khắc họa thậm hụt lớn – cả hai cực kỳ nguy hiểm và khó khăn tới dự trữ. Không có một
sự đảo ngược, tỷ lệ lạm phát cao có thể bị trì hõa (có lẽ thời gian dài), nhưng
không thể tránh khỏi. Nếu tỷ lệ cao trở thành hiện thực, chúng mang theo chúng
khả năng cho xoắn ốc đi lên.
Trong khi không nhiều lựa chọn giữa
trái phiếu và cổ phiếu khi tỷ lệ lạm phát ở mức 5% - 10%, lạm phát phi mã là một
câu chuyện khó. Trong tình huống đó, một danh mục đầu tư cổ phiếu đa dạng sẽ hầu
như chắc chắn chịu đựng một khoản lỗ to lớn trong giá trị thực tế. Những các
trái phiếu đã nổi bật sẽ chịu đựng nhiều hơn. Theo đó, chúng tôi nghĩ một danh
mục tất cả trái phiếu mang lại nhỏ bé nhưng không chấp nhận rủi ro “wipe out”,
và chúng tôi yêu cầu bất cứ mua sắm ở các trái phiếu dài hạn tới xóa sạch một
khó khăn đặc biệt. Duy nhất khi mua sắm trái phiếu xuất hiện quyết định tốt hơn
tới các cơ hội kinh doanh khác buộc chúng tôi tham gia vào chúng. Các sự kiến
đó có khả năng giữa ít và xa.
Chính sách
cổ tức
Chính sách cổ tức thường được báo
cáo tới các cổ đông, nhưng hiếm khi được phân tích. Một công ty sẽ nói những thứ
như,”Our goal is to say pay out 40% to 50% of earrnings and to increase
dividends at a rate at least equal to the rise in the CPI”. Và đó là nó – không
phân tích sẽ được cung cấp như tới tại sao chính sách cụ thể là tốt nhất cho những
người sở hữu công ty. Tuy nhiên, phân bổ nguồn vốn là quyết định tới quản lý
kinh doanh và đầu tư. Tại vì nó là, chúng tôi tin tưởng những người quản lý và
những người sở hữu sẽ suy nghĩ nhiều về các hoàn toàn dưới các thu nhập đó sẽ
được giữ lại và dưới các thu nhập nên được phân phối.
Điểm đầu tiên tới hiểu biết là tất cả
các thu nhập không được tạo ra đồng đều. Trong rất nhiều doanh nghiệp đó có tài
sản/ lợi nhuận cao (high asset/ profit) tỷ lệ lạm phát là nguyên nhân nhiều hoặc
tất cả báo cáo thu nhập trở nên thế phẩm. Phần thế phẩm – hãy gọi các thu nhập
đó “restricted” – không thể, nếu doanh nghiệp duy trì vị thế kinh tế của nó, bị
phân phối như các cổ tức. Các khoản thu nhập đó được tri trả, doanh nghiệp sẽ mất
nền tảng trong 1 hoặc nhiều các tài sản theo sau: các khả năng duy trì doanh
thu, vị thế cạnh tranh dài hạn, sức mạnh tài chính. Bất kể làm thế nào thận trọng
tỷ lệ chi tiêu, một công ty mà kiên định các thu nhập bị hạn chế được đi đến
lãnh quên trừ khi vốn chủ sở hữu không được thiên phú
Các thu nhập hạn chế ít khi không
đáng giá tới những người sở hữu, nhưng họ thường phải bị giảm bớt nghiêm trọng.
Trên thực tế, chúng bị cưỡng bách bởi kinh
doanh, cho dù làm thế nào kém tiềm năng kinh tế của nó.
Các thu nhập hạn chế cần thiết không
ảnh hưởng chúng tôi thêm nữa trong thảo luận cổ tức này.Hãy quay lại hướng tới
nhiều giá trị đa dạng không hạn chế. Các thu nhập này có thể, với cân bằng tính
khả thi, được giữ lại hoặc phân phối. Trong quan điểm chúng tôi, người quản lý
nên chọn lựa bất cứ tiến trình tạo ý thức to lớn cho những người sở hữu doanh
nghiệp.
Nguyên lý này không được chấp nhận
phổ biến. Đối với con số các lý do người quản lý thích giữ lại thu nhập không hạn
chế, sẵn sàng phân phối các thu nhập từ các cổ đông – tới mở rộng đế chế quản
trị qua nguyên tắc những người quản lý, tới hoạt động từ vị thể thoải mãi tài
chính kỳ vọng...Nhưng chúng tôi tin tưởng có duy nhất một lý do giá trị cho sự
giữ lại. Các thu nhập không hạn chế sẽ được duy lại chỉ duy khi có một viễn cảnh
hợp lý – được quay lại tốt nhất bởi bằng lịch sử hoặc, khi mỗi 1 $ được giữ lại,
tối thiểu 1$ giá trị thị trường được tạo ra cho những người sở hữu. Điều này sẽ
xảy ra duy nhất nếu nguồn vốn được giữ lại tạo ra các thu nhập lớn lên bằng, hoặc bên trên, thông thường có sẵn tới
các nhà đầu tư.
Về hình dung, hãy giả định rằng nhà
đầu tư sở hữu trái phiếu rủi ro liên kim 10% với một nét đặc trưng rất khác thường.
Mỗi năm nhà đầu tư có thể lựa chọn giữa hoặc năm 10% coupon tiền mặt, hoặc tái
đầu tư coupon trong nhiều hơn trái phiếu 10% với thời kỳ tương đồng.; a perpetual
life và coupons mang đến lựa chọn giống nhau tiền mặt hoặc tái đầu tư. Nếu,
trong bất cứ năm nào, lãi suất dài hạn thuận lợi, trái phiếu phi rủi ro là 5%,
nếu sẽ là ngu xuẩn cho nhà đầu tư năm coupon của anh ý trong tiền mặt từ khi
10% các trái phiếu anh ý có thể thay vào đó chọn lựa sẽ giá trị đáng kể hơn 100
cents vào 1$. Dưới các hoàn cảnh đó, nhà đầu tư muốn có được tiền mặt trên tay
nên nắm coupon anh ý cộng thêm các trái phiếu và khi đó ngay lập tức bán chúng.
Bởi làm thế, anh sẽ nhận nhiều tiền mặt hơn nếu anh lắm coupon trực tiếp tiền mặt.
Giả định tất cả trái hiếu được nắm giữ vừa phải, không ai chọn lựa tiền trong kỷ
nguyên lãi suất 5%, không thậm chí trái chủ cần tiền mặt cho mục đích cuộc sống.
Nếu, tuy vậy, lãi suất là 15%, không
nhà đầu tư sáng suốt sẽ mong muốn tiền của mình được đầu tư cho mình tại 10%.
Thay vào đó, nhà đầu tư sẽ chọn lựa năm coupon bằng trong tiền mặt, thậm chí nếu
tiền mặt cá nhân anh ý cần thiết là không có. Tiến trình ngược lãi – tái đầu tư
coupon – sẽ gửi đến nhà đầu tư thêm các trái phiếu với giá trị thị trường ít
hơn tiền mặt anh ấy có thể được lựa chọn. Nếu anh ấy mong muốn 10% trái phiếu,
anh ấy có thể đơn giảm cầm tiền mặt được nhận và mua chúng trong thị trường, ở
đó chúng sẽ có sẵn tại một mức chiết khấu lớn.
Một phân tích giống nhau đó tạo ra bởi
giả thuyết trái chủ của chúng tôi là thích hợp những người sở hữu trong suy
nghĩ về hay không thu nhập không hạn chế của công ty sẽ được sẽ lại hoặc chi trả.
Dĩ nhiên, các phân tích nhiều hơn sự khác biết và tùy thuộc vào sai sót tại vì tỷ
lệ kiếm được dựa trên các thu nhập tái đầu tư là không giao kèo, như trong trường
hợp trái phiếu chúng tôi, như xa hơn một con số dao động. Tuy vậy, đã có một ước
chừng thấm nhuần được thực hiện, yên tâm các phân tích đơn giản: bạn nên hy vọng
các thu nhập của bạn cho tái đầu tư nếu chúng ta có thể được trông đợi kiếm được
lợi nhuận cao; và bạn nên hy vọng họ trả tới bạn nếu lợi nhuận thấp có khả năng
kết quả tái đầu tư.
Nhiều quản lý doanh nghiệp lý do rất
nhiều dọc theo đó trong xác định có hay không các công ty con nên phân phối lợi
nhuận tới công ty mẹ của chúng. Tại mức độ đó, những người quản lý không có rắc
rối suy nghĩ như những người sở hữu thông minh. Nhưng các quyết định chi trả tại
mức độ công ty mẹ thường là câu chuyện khó khăn. Những người quản lý ở đây thường
xuyên có rắc rối đặt bản thân họ trong giày của cổ đông sở hữu họ.
Với phương pháp schizoid này, CEO của
một công ty đa phân chỉ dẫn Subsidiary A, sở hữu các thu nhập trên tiền lãi vốn
có thể kỳ vọng trung bình 5%, tới phân phối tất cả thu thập sẵn có để họ có thể
đầu tư trong Subsidiary B, sở hữu các thu nhập trên tiền lãi nguồn vốn được kỳ
vọng lên tới 15%. Lời tuyên thệ của CEO trường kinh doanh sẽ cho phép không ít
hành vi kém hơn. Nhưng nếu thành tích dài hạn anh ta sở hữu với tiền lãi nguồn
vốn là 5% - và tỷ suất thị trường là 10% - anh ấy có khả năng lợi dụng một
chính sách cổ tức dựa vào các cổ đông của công ty mẹ rằng đơn thuần đi theo lịch
sử hoặc mô hình thanh toán rộng rãi ngàng. Hơn nữa, anh ta sẽ kỳ vọng những quản
lý công ty con gửi tới anh ta một tài khoản đầy đủ như tới tại sao nó tạo ý thức
cho các lợi nhuận tới tái giữ lại trong các hoạt động của họ thay vi phân phối
tới công ty mẹ. Nhưng hiếm khi sẽ anh ta cung cấp người sở hữu anh ta với các
phân tích tương tự gắn liền toàn bộ công ty.
Trong xét đoán có hay không những
người quản lý nên giữ lại lợi nhuận, các cổ đông không nên đơn giản so sánh tổng
các lợi nhuận sinh lời trong các năm gần đây tới tổng sinh lời nguồn vốn tại vì
mối quan hệ đó có thể bị bóp méo bởi những gì đang diễn ra trong hoạt động cốt
lõi. Trong một giai đoạn lạm phát, các công ty với đặc điểm kinh doanh cốt lõi
do tính kinh tế khác thường có thể dùng số lượng nhỏ tiền lãi nguồn vốn trong
đó kinh doanh tại tỷ suất sinh lời rất cao. Nhưng, trừ khi họ đang trải nghiệm
rất lớn đơn vị tăng trưởng, kinh doanh nổi bật bởi định rõ tạo ra số lượng lớn
dư thừa tiền mặt. Nếu một công ty hạ xuống đa số tiền này trong hoạt động kinh
doanh khác mà kiếm được lợi nhuận thấp, lợi nhuận toàn bộ của công ty trên nguồn
vốn giữ lại có thể tuy vậy xuất hiện tuyệt vời tại vì lợi nhuận đặc biệt được
thu do phần lãi lợi nhuận được đầu tư trong hoạt động cốt lõi. Hoàn cảnh tương
tự với sự kiện golf Pro-Am: thậm chí nếu tất cả vận động viên nghiệp dư là
chàng ngốc vô dụng, điểm số nhát bóng của đội sẽ là kha khá tại vì các kỹ năng
trội hơn của vận động viên chuyên nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp mà kiên định cho
thấy lợi nhuận tốt cả 2 dựa trên vốn và dựa trên tất cả tiền lãi nguồn vốn có,
thực vậy, tận dụng một vị thế lớn ở các lợi nhuận giữ lại của họ vào không hấp
dẫn kinh tế, thậm chí thảm họa, khởi điểm. Kinh doanh cốt lõi tuyệt duyệt của họ,
tuy vậy, sở hữu thu nhập tăng trưởng năm sau năm, ngụy trang liên tục thất bại
trong phân bổ nguồn vốn ở nơi nào khác (thường thường liên quan giá cao hơn sáp
nhập doanh nghiệp mà vốn đã có tính kinh tế tầm thường). Những quản lý báo cáo
định kỳ sai lầm trên các bài học họ đã học được từ sự thất vọng gần nhất. Họ
khi họ luôn luôn tìm thấy các bài học tương lai.
Trong trường hợp đó, các cổ đông sẽ
tốt hơn hết nếu các thu nhập được giữ lại duy nhất mở rộng lợi nhuận kinh doanh
cao hơn, với bảng cân đối trả cổ tức, hoặc sử dụng mua lại cổ phiếu. Những người
quản lý doanh nghiệp lợi nhuận cao người kiên định sử dụng nhiều tiền mặt quăng
đi do kinh doanh đó trong dự án mạo hiểm lợi nhuận thấp nên được nắm giữ tài
khoản cho các quyết định phân phối, bất chấp sinh lời thế nào toàn bộ công ty.
Không có gì trong thảo luận điều này
được ý định tới biện luận cổ tức mà bật lên khoảng từ quý tới quý với mỗi gợn
sóng trong thu nhập hoặc trong các cơ hội đầu tư. Các cổ đông của các công ty đại
chúng có thể hiểu được thích hơn rằng các cổ tức được nhất quán và có thể đoán
được. Các thanh toán, theo đó, nên phản ánh các kỳ vọng dài hạn cho cả thu nhập
và lợi nhuận từ tiền lãi vốn. Vì viễn cảnh doanh nghiệp dài hạn thay đổi không
thường xuyên, các mô hình cổ tức nên thay đổi không thường xuyên hơn. Nhưng
theo thời gian các thu nhập có thể phân phối đã có chiếm giữ do những người quản
lý nên kiếm tiền nuôi sống họ. Nếu các thu nhập đã được giữ lại không khôn
ngoan, nó khả năng rằng những người quản lý đó, cũng, đã được giữ lại không
khôn ngoan.
Bây giờ hãy chuyển đến Berkshire
Hathaway và xem xét thế nào những nguyên lý cổ tức đó áp dụng. Lịch sử,
Berkshire đã kiếm được tốt trển lãi suất thị trường vào các thu nhập giữ lại,
theo đó tạo ra trên 1$ giá trị thị trường cho mỗi 1$ được giữ lại. Dưới các
hoàn cảnh đó, bất cứ phân phối sẽ có trái với lợi nhuận tài chính của các cổ
đông, lớn hoặc nhỏ.
Trên thực tế, sự phân phối đáng kể đầu
các năm có thể đã tệ hại, như 1 nhìn nhận vị trí bắt đầu của chúng tôi sẽ diễn
tả tới bạn. Charlie và Tôi lúc đó đã kiểm soát và quản lý 3 công ty, Berkshire
Hathaway Inc., Diversified Reailing Company Inc., và Blue Chip Stamps (tất cả
bây giờ được hợp nhất vào trong hoạt động hiện tại của chúng tôi). Blue Chip trả
chỉ một lượng nhỏ cổ tức, Berkshire và DRC không trả gì. Nếu, thay vì, các công
ty đã tri trả tất cả các lợi nhuận của họ, chúng ta hầu như chắc chắn sẽ không
có lợi nhuận tất cả bây giờ - và có lẽ nguồn vốn cũng không. 3 công ty mỗi cái
bắt đầu tạo tiền của chúng từ kinh doanh đơn lẻ: (1) dệt may tại Berkshire; (2)
cửa hàng bách hóa tại Diversified; và (3) buôn bán tem tại Blue Chip. Nền tảng
kinh doanh đấy (chọn lựa cẩn thận, nó nên được lưu ý, bởi chủ tịch và phó chủ tịch
của bạn) có, theo thứ tự, (1) được sống sót nhưng kiếm được hầu như không có
gì, (2) quắt lại trong quy mô trong khi xuất hiện thua lỗ, và (3) co lại trong
doanh thu tới khoảng 5% của nó, kích thước tại thời điểm gia nhập của chúng
tôi. Duy nhất bởi các nguồn lực có sẵn tận tâm có hoạt động tốt hơn là chúng
tôi có khả năng chiến thắng điểm bắt đầu đó. Rõ ràng, đa dạng hóa đã phục vụ tốt
chúng tôi.
Chúng tôi tiếp tục đa dạng hóa trong
khi vẫn hỗ trợ tăng trưởng hoạt động hiện tại thông qua, như chúng tôi đã chỉ
ra, lợi nhuận của chúng tôi từ các nỗ lực đó sẽ chắc chắn dưới lợi nhuận lịch sử
của chúng tôi. Nhưng viễn cảnh lợi nhuận dài hạn bên trên tỷ suất yêu cầu tới
đưa ra 1$ của thị trường trên mỗi 1$ được giữ lại, chúng tôi sẽ tiếp tục giữ lại
tất cả lợi nhuận. Nên đánh giá của chúng tôi lợi nhuận tương lai giảm xuống dưới
điểm đó, chúng tôi sẽ phân bổ tất cả lợi nhuận không cần thiết rằng chúng tôi
tin tưởng không thể sử dụng hiệu quả. Trong đưa ra phán xét đó, chúng tôi sẽ
xem xét cả lịch sử và viễn cảnh của chúng tôi. Tại vì các kết quả năm qua năm vốn
đã không kiên định, chúng tôi tin tưởng trung bình 5 năm trôi qua là thích hợp
tới phán xét các thành tích lịch sử.
Kế hoạch hiện tại của chúng tôi là sử
dụng các thu nhập giữ lại tới tiếp tục xây dựng nguồn vốn các công ty bảo hiểm.
Hầu hết các đối thủ cạnh tranh trong điều kiện tài chính yếu và miễn cưởng mở rộng
căn bản. Tuy nhiên tiền lãi phí bảo hiểm lớn cho ngàng là sắp xảy ra, số lượng
có lẻ vượt trên $15 tỷ trong năm 1985 so
với ít hơn $5 tỷ năm năm 1983. Các hoàn
cảnh đó có thể đưa ra số lượng lớn kinh doanh sinh lời tới chúng tôi. Dĩ nhiên,
các kết quả này không có điều gì chắc chắn, nhưng viễn cảnh cho nó là tốt hơn
nhiều so với chúng đã có mấy năm.
Miscellaneous
Đây là nơi ở đó mỗi năm tôi chạy quảng
cáo nhỏ“business wanted” của tôi. Năm 1984 John Loomis, một người chúng tôi đặc
biệt am hiểu và các cổ đông chú ý, đã đưa ra với một công ty rằng phù hợp tất cả
bài kiểm tra của chúng tôi. Chúng tôi ngay lập tức theo đuổi ý tưởng đó, và chỉ
một phức tạp may mắn ngăn chặn một thỏa thuận. Từ khi quảng cáo của chúng tôi
đang được lôi kéo, chúng tôi sẽ nhắc lại nó trong chính xác mẫu năm ngoái:
Chúng tôi thích
(1) Mua sắm lớn (tối thiểu
lợi nhuận $5m sau thuế)
(2)
Chứng minh được năng lực lợi nhuận kiên định (các dự án tương
lai là ít quan tâm tới chúng tôi, cũng không phải tình huống “turn-around”)
(3)
Donh nghiệp đạt ROE tốt trong khi ít hoặc không có nợ
(4)
Quản trị giữ nguyên (chúng tôi không thể cung cấp nó)
(5)
Kinh doanh đơn giản (nếu có nhiều công nghệ, chúng tôi không
thể hiểu biết nó)
(6) Giá cả đề xuất
(chúng tôi không muốn hao phí thời gian của chúng tôi hoặc của người bán bởi
nói chuyện, thậm chí sơ bộ về một giao dịch khi giá cả không biết)
Chúng tôi sẽ không
tham gia trong unfrinedly takeovers. Chúng tôi có thể cam kết bí mất và trả lời
rất nhanh chóng – thông thường trong khoảng 5 phút – như là có hay không chúng
tôi quan tâm. Chúng tôi ưa thích mua bằng tiền mặt, nhưng sẽ quan tâm phát hành
cổ phiếu khi chúng tôi nhận nhiều trong giá trị doanh nghiệp nội tại như chúng
tôi gửi. Chúng tôi mời những người bán tiềm năng kiểm tra chúng tôi bởi liên lạc
những người chúng tôi đã thực hiện kinh doanh trong quá khứ. Đối với quyền kinh
doanh – và quyền con người – chúng tôi có thể cung cấp ngôi nhà tốt
Một ghi chép 97,2% tất cả các cổ
đông đủ tư cách đã tham gia trong chương trình phân bổ shareholder-designated
Berkshire năm 1984. Tổng công đóng góp được tạo ra thông qua chương trình này
này là $3179000 và 1519 tổ chức từ thiện đã nhận. Tài liệu ủy nhiệm của chúng
tôi cho gặp mặt thường niên sẽ cho phép bạn quăng một tư vấn bỏ phiếu rõ ràng
nhìn nhận của bạn về chương trình này – có hay không bạn nghĩ chúng ta nên tiếp
tục nó và, nếu vậy, tại mức bao nhiêu mỗi cổ phiếu.
Chúng tôi đề xuất các cổ đông mới
đọc miệu tả chương trình đóng góp shareholder-designated của chúng tôi rằng xuất
hiện trang 60 và 61. Nếu bạn mong ước tham dự các chương trình trong tương lai,
chúng tôi đề xuất mạnh mẽ rằng bạn ngay lập tức chắc chắn rằng cổ phiếu của bạn
được đăng ký trong tên chủ sở hữu thực sự, không phải “street” hoặc tên danh
nghĩa. Các cổ phiếu không được đăng ký quá ngày 30/12/1985 sẽ không đủ tư cách cho tham gia chương trình
năm 1985.
Gặp mặt thường niên sẽ vào ngày
21/5/1985 tại Omaha, và tôi hi vọng rằng bạn tham gia. Nhiều buổi gặp mặt phung
phí thời gian, cả cho cổ đông và cho quản lý. Thỉnh thoảng đó là đúng tại vì quản
lý bất đắc dĩ mở tới các vấn đề kinh doanh căn bản.Thường xuyên hơn một buổi họp
không mang lại hiệu quả là sự lỗi lầm của những người tham gia cổ đông người được
liên quan về tính trọng yếu sở hữu của họ trên sân khấu so với họ về các công
việc công ty. Những gì nên là một diễn đàn thảo luận kinh doanh trở thành diễn
đàn cho sân khấu, vấn đề spleen – venting và ủng hộ tích cực. Dưới các hoàn cảnh
đó, chất lượng của gặp mặt thường xấu đi từ năm này qua năm khác như trò hề của
những người quan tâm đến bản thân nản lòng tham dự có mặt những người quan tâm
trong doanh nghiệp
Buổi gặp Berkshire là câu chuyện
khác. Con số các cổ đông tham dự tăng trưởng một ít mỗi năm và chúng tôi vẫn
chưa trải nghiệm một câu hỏi ngớ ngấn hoặc bình luận cái tôi đầy cảm hứng. Thay
vào đó, chúng tôi có đa dạng rộng khắc thông qua các câu hỏi về doanh nghiệp. Tại
vì buổi gặp thường niên là thời gian và địa điểm đó, Charlie và tôi hạnh phúc
trả lời tất cả họ, không vấn đề thời gian mất bao lâu. (chúng tôi không thể,
tuy vậy trả lời các câu hỏi viết thư hoặc phone tại các thời gian khác nhau của
năm, một con người tại một thời gian báo cáo là sử dụng nghèo nàn thời gian quản
lý trong một công ty với 3000 cổ đông). Các hoạt động trong chứng khoán sẽ nó
minh họa quan trọng
Chúng tôi luôn luôn khoe khoang
môt ít trên các trang đó về chất lượng khuân khổ cổ đông của chúng tôi. Đến buổi
gặp thường niên và bạn sẽ nhìn thấy tại sao. Out-of-towers lịch trình dừng lại
Nebraska Funrniture Mart. Nếu bạn thực hiện nhiều mua sắm, bạn sẽ tiết kiệm nhiều
hơn so với đủ tiền trả cho chuyến đi của bạn, bạn sẽ thích thú trải nhiệm này.
Warren E Buffet
Chairman of the bord
February 25, 1985
[1] tăng thêm trong giá cả của
nhiều thứ trên cơ sở khác biệt giữa chi phí sản xuất nó và giá cả nó được bán
[2] 1
pound = 0,453 grams
No comments:
Post a Comment