Sunday, July 8, 2018

1984 BERKSHIRE HATHAWAY INC


                                                     Chairman’s Letter – 1984                                      

BERKSHIRE HATHAWAY INC

Tới các cổ đông của Berkshire Hathaway Inc
15/09/2015  1/26
            Thành tích của chúng tôi trong  giá trị ròng năm 1984 là $152,6 triệu, hoặc $133 mỗi cổ phiếu. Căn cứ này khá tốt nhưng thực tế tầm thường. Lợi nhuận kinh tế phải được đánh giá bởi so sánh với nguồn vốn tạo ra chúng. 20 năm lãi kép hằng năm trong giá trị sổ sách đã là 22,1% (từ $19,46 trong năm 1964 tới $1108,77 trong năm 1984), nhưng lợi nhuận trong năm 1984 chỉ là 13,6%.
            Như chúng ta đã thảo luận năm ngoài, lợi ích trong giá trị doanh nghiệp nội tại mỗi cổ phiếu là đo lường kinh tế mà thực tính đến. Nhưng cách tính toán ở giá trị doanh nghiệp nội tại là chủ quan. Trong trường hình chúng tôi, giá trị sổ sách cung cấp như một sự hữu ích, mặc dù có phần kiềm chế, ủy nhiệm. Trong đánh giá của chúng tôi, giá trị doanh nghiệp nội và giá trị sổ sách đã tăng thêm trong thời gian năm 1984 tại khoảng tỷ lệ giống nhau.
            Sử dụng giọng nói học thuật của tôi, tôi đã nói với bạn trong quá khứ ở điều trở ngại mà một nguồn vốn phát triển nhanh dựa trên cơ sở tỷ suất sinh lời. Thật không may, giọng nói học thuật của tôi bây giờ đang nhường chỗ cho một giọng báo cáo. Tỷ lệ 22% lịch sử cũng chỉ là lịch sự. Tới kiếm được thậm chí 15% trong thập kỷ sắp tới (giả định chúng tôi tiếp tục đi theo chính sách cổ tức hiện tại, về cái nhiều hơn sẽ được nói trong đoạn sau bức thư này)  chúng tôi sẽ cần thiết tổng lợi nhuận khoảng $3,9 tỷ. Thực hiện điều nay sẽ đòi hỏi một vài ý tưởng lớn – những cái nhỏ sẽ không làm. Charlie Munger, đối tác của tôi trong quản lý chung, và tôi sẽ không nhất thiết có bất cứ các ý tưởng như vậy bây giờ, nhưng kinh nghiệm của chúng tôi đã có rằng chúng thỉnh thoảng bật lên.
Nguồn của các thu nhập được báo cáo
            Bảng ở trang sau trình bày các nguồn thu nhập được báo cáo của Berkshire. Lợi ích quyền sở hữu ròng của Berkshire trong nhiều doanh nghiệp cấu thành đã thay đổi ở thời điểm cuối năm 1983 khi sáp nhập Blue Chip được diễn ra. Tại vì các thay đổi này, 2 cột đầu tiên của bảng cung cấp đo lường tốt nhất hiệu quả kinh doanh cơ bản.
            Tất cả ở thua lỗ, sinh lợi đáng kể tính cho bán các tài sản bất thường bởi bất cứ các thực tế kinh doanh được tổng hợp với các giao dịch chứng khoán trong dòng gần cuối phía dưới của bảng, và nó không bao gồm trong thu nhập kinh doanh. (Chúng tôi đánh giá bất cứ con số hằng năm cho phản anh thua lỗ và sinh lời như vô nghĩa, nhưng chúng tôi đánh giá tổng hợp phản ánh thua lỗ hoặc sinh lời lợi nhuận vốn trên giai đoạn các năm rất quan trọng.)
            Hơn nữa, sự khấu hao của Goodwill không tính vào đối với những doanh nghiệp cụ thể nhưng, đối với các lý do được phác họa trong Appendix tới bức thư của tôi trong báo cáo hằng năm năm 1983, nó được nêu lên như một mục riêng biệt.


            Các cổ đông tinh mắt sẽ để ý rằng số lượng ở sự phân phối GEICO dành riêng và vị trí của nó trong bảng đã có thay đổi từ sự trình bày của năm ngoài. Dẫu cho chúng phân loại và các thu nhập ‘’account’’ suy giảm, các thay đổi là hoàn toàn ở hình thức, không ở thực chất. Câu chuyện đằng sau các thay đổi, tuy vậy, đang dính dáng dến.
            Như báo cáo năm trước: (1) trong giữa năm 1983 GEICO thực hiện một đề xuất bỏ thầu mua các cổ phiếu của nó; (2) cùng thời gian, chúng tôi đồng ý bằng văn bản hợp đồng tới bán GEICO một số lượng cổ phiếu của mà cân xứng liên quan tới tổng số lượng công phiếu GEICO mua lại theo đường bỏ thầu tới tất cả các cổ đông khác (3) tại thời điểm hoàn thành bỏ thầu, chúng tôi đã chuyển giao 350 000 cổ phiếu tới GEICO, nhận lại $21 triệu tiền mặt, và cho phép sở hữu chính xác phần trăm giống ở GEICO mà chúng tôi đã sở hữu trước khi bỏ thầu; (4) các giao dịch của GEICO với chúng tôi tương đương với mua lại tương xứng, một ý kiến được nêu ra chúng tôi, không có sự dè dặt, bởi một công ty luật hàng đầu; (5) the Tax Code hợp lý xem xét mua lại tương xứng như thế về thực chất tương đương các cổ tức và, theo đó $21 triệu chúng tôi đã nhận bị đánh thuế chỉ 6,9% thuế suất cổ tức công ty liên doanh; (6) quan trọng hơn nữa, rằng $21 triệu là ít hơn nhiều so với các thu nhập không được phân phối trước đây điều đấy đã có lợi tới quyền sở hữu của chúng tôi trong GEICO và, theo đó, từ quan điểm cốt lõi kinh tế, trong nhìn nhận của chúng tôi tương đương như cổ tức.
            Tại vì nó là cần thiết và khác thường, chúng tôi đã nhấn mạnh phần đóng góp GEICO năm ngoái tới bạn, cả trong báo cáo quí thích hợp và trong khu vực này ở báo cáo thường niên. Thêm vào đó, chúng tôi đã nổi bật giao dịch tới những kiểm toán viên chúng tôi, Peat, Marwick, Mitchell & Co. Cả văn phòng Omaha ở  Peat Marwick và đối tác rà soát Chicago, không có phản đối, đã đồng tính với sự trình bày cổ tức của chúng tôi.
            Trong năm 1984, chúng tôi có một giao dịch hầu như giống hệt với General Foods. Sự khác biệt duy nhất là General Foods mua lại cổ phiếu của nó trong một giai đoạn thời gian trong thị trường mở, trong khi GEICO đã tạo ra một đề xuất bỏ thầu ‘‘one-shot’’. Trong trường hợp General Foods chúng tôi bán lại tới công ty, vào ngày nó mua lại các cổ phiếu, số lượng các công phiếu mà cho phép phần trăm quyền sở hữu của chúng tôi chính xác không thay đổi. Lần nữa giao dịch của chúng tôi căn cứ vào một hợp đồng văn bản được thực hiện trước khi mua lại bắt đầu. Và lần nữa tiền chúng tôi được nhận ít hơn nhiều so với các thu nhập được giữ lại mà có lợi tới quyền lợi quyền sử hữu của chúng tôi từ khi mua. Toàn bộ chúng tôi được nhận $21 843 601 bằng tiền mặt từ General Foods, và quyền sở hữu được vẫn giữ nguyên chính xác 8,75%.
            Tại điểm này văn phòng New York của Peat Marwick được đưa vào điển hình. Cuối năm 1984 nó đã chỉ ra rằng nó không đồng ý với các kết luận thuộc văn phòng Omaha của công ty và đối tác rà soát Chicago. New York nhìn nhận rằng các giao dịch GEICO và General Foods lên được xem xét như bán cổ phiếu hơn là như khoản thu cổ tức. Dưới cách tiếp cận kế toán này, một phần ở chi phí đầu tư của chúng tôi trong cổ phiếu mỗi công ty sẽ được tính dựa vào thanh toán mua lại và bất cứ lợi ích sẽ được xuất hiện như một lợi ích vốn, không như thu nhập cổ tức. Đây là một các tiếp cận kế toán chỉ, không có liên quan vào thuế: Peat Marwick đồng ý rằng các giao dịch là các cổ tức cho các mục đích IRS.
            Chúng tôi không đồng ý với lập trường New York từ cả điểm nhìn ở kinh tế cốt lõi và kế toán thích hợp. Nhưng, tới tránh một ý kiến kiểm toán có trình độ chuyên môn, chúng tôi đã chấp nhận khía cạnh quan điểm của Peat Marwick năm 1984 và trình bày lại phù hợp với năm 1983. Không ai trong số này, dù như thế nào, có bất cứ ảnh hưởng vào giá trị doanh nghiệp nội tại: các lợi ích quyền sở hữu trong GEICO và General Foods, tiền mặt, thuế, và giá trị thị trường và các cơ sở thuế của chúng tôi ở tất cả các chứng khoán vẫn giữ nguyên giống nhau.
16/09/2015 3/26
            Năm nay chúng tôi lần nữa nằm trong một hợp đồng với General Foods qua đó chúng tôi sẽ bán cho họ các cổ phiếu kiêm với mua thị trường mở mà họ thực hiện. Sự thỏa thuận đưa ra rằng lợi ích quyền sở hữu của chúng tôi sẽ giữ nguyên không thay đổi ở tất cả thời gian. Bởi giữ nó như vậy, chúng tôi sẽ đảm bảo chính sự giải quyết cổ tức tự bản thân cho các mục tiêu thuế. Cũng theo nhìn nhận chúng tôi, bản chất kinh tế ở giao dịch này ngoài ra tạo ra thu nhập cổ tức. Tuy vậy, chúng tôi sẽ giải thích cho những sự mua lại như doanh thu các cổ phiếu hơn là thu nhập cổ tức trừ khi các quy tắc kế toán chấp nhận rằng trực tiếp nói tới điểm này. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm nổi bật bất cứ các giao dịch cụ thể đó trong các báo tới bạn.
            Trong khi chúng tôi thích thú một nghĩa vụ thuế thấp trên redemptions cân xứng này, và đã có tham gia trong một vài cái, chúng tôi nhìn nhận các mua lại như vậy tối thiểu bằng nhau thuận lợi cho các cổ đông những người không bán chúng. Khi các công ty với kinh doanh nổi bật và tình hình tài chính thoải mãi nhận thấy các cổ phiếu của họ bán thấp hơn nhiều giá trị nội tại trong thị trường, không hành động thay thế có thể làm lợi cho các cổ đông chắc chắn như mua lại cổ phiếu.
            (chứng thực của chúng ta ở mua lại bị hạn chế đối với những người bị chi phối bởi giá/ các mối quan hệ giá trị và không mở rộng tới mua lại’’greemail’’ – một thực tiễn chúng tôi nhận thấy ghê tởm và đáng ghét. Trong các giao dịch này, 2 bên tham gia đạt được mục đích cá nhân của họ bởi khai thác ở một bên thứ 3 ngây thơ và không suy nghĩ. Những người chơi là: (1) ‘’các cổ đông’’ kẻ tống tiền những người, thậm chí trước khi mực khô trên chứng nhận cổ phiếu, đưa ra thông điệp’’ tiền của bạn hoặc cuộc sống của bạn’’ tới những người quản lý: (2) người trong doanh nghiệp những người nhanh chóng mưu cầu hòa bình tại bất cứ mức giá – miễn là giá cả được trả bởi người khác: và (3) các cổ đông sở hữu tiền được sử dụng do (2) để thực hiện và (1) đi xa. Khi bụi lắng xuống, vụ trấn lột, thoáng qua các cổ động truyền tải tiếng nói của anh ấy ‘’doanh nghiệp tự do’’, người quản lý trấn lột truyền tải tiếng nói của nó ‘’quyền lợi tốt nhất ở công ty’’, và cổ đông vô tội đứng bên cạnh các nguồn lực im lặng ở thưởng phạt. )
17/09/2015 4/26
            Các công ty trong đó chúng tôi có những đầu tư lớn nhất đã có tham gia tất cả trong mua lại cổ phiếu đáng kể tại các lần khi sự khác nhau rộng lớn tồn tại giữa giá và giá trí. Như các cổ đông, chúng tôi nhận thấy khuyến khích và thỏa mãn này cho 2 lý do quan trọng – một là hiển nhiên, và một là tinh tế và không luôn luôn hiểu được. Điểm hiển nhiên liên quan cơ sở số học: những mua lại lớn tại mức giá thấp hơn giá trị doanh nghiệp nội tại mỗi cổ phiếu ngay lập tức tăng thêm, trong một hướng cao đáng kể, giá trị.  Khi các công ty mua lại cổ phiếu của họ, họ thường nhận được đơn giản có được $2 ở giá trị hiện tại với giá $1. Các chương trình mua lại doanh nghiệp hầu hết không bao giờ làm tốt và, trong con số lớn nản lòng các trường hợp, thất bại có bất cứ các thứ gần tới $1 giá trị cho mỗi $1 được mở rộng.
            Lợi ích khác ở mua lại ít đưa ra tới đo lường chính xác nhưng có thể hoàn toàn quan trọng theo thời gian. Bởi thực hiện mua lại khi giá trị thị trường của công ty bên dưới giá trị doanh nghiệp của nó, quản lý rõ ràng giải thích rằng cái đó thực hiện các hành động mà nâng cao sự giàu có của các cổ đông, hơn là hành động mà mở rộng lãnh thổ của quản lý nhưng điều đó không làm gì cho (hoặc thậm chí tổn hại) các cổ đông. Nhìn vào điều này, các cổ đông và các cổ đông tiềm năng làm tăng đánh giá của họ ở lợi nhuận tương lai từ doanh nghiệp. Điều chỉnh tăng này, đến lượt nó, đem lại giá thị trường phù hợp hơn với giá trị doanh nghiệp nội tại. Giá cả này là hợp lý toàn bộ. Các nhà đầu tư nên trả nhiều hơn cho một doanh nghiệp mà được đặt vào tay một người quản lý với khuynh hướng ủng hộ cổ đông hơn là trong tay ở người quản lý tư lợi dẫn đi tới một tay trống khác.
            Từ khóa là ‘’demonstrated’’. Một người quản quay lưng lại với việc mua lại, khi điều đó rõ rằng trong lợi ích những người sở hữu, lộ ra nhiều hơn so với anh ấy biết về các động lực của bản thân. Không vấn đề bao lâu hoặc bao hùng hồn anh ấy nói to nhiều cụm từ quan hệ cảm hứng cộng đồng giống như ‘’maximizing shareholder wealth’’, thị trường trừ hao phù hợp các tài sản đặt vào với anh ấy. Trái tim anh ấy không lắng nghe tới miệng anh ấy – và, sau một khoảng thời gian, không phải sẽ là thị trường.
            Chúng tôi đã có thịnh vượng trong một cách rất lớn – như có các cổ đông khác – bởi mua lại cổ phiếu lớn của GEICO, Washington Post, và General Foods, 3 nắm giữ lớn nhất của chúng tôi. (Exxon, trong cái chúng tôi có nắm giữ lớn nhất thứ 4, ngoài ra có khôn ngoan và xông xáo mua lại các cổ phiếu nhưng, trong trường hợp này, chúng tôi có duy nhất gần đấy thiết lập vị trí của chúng tôi. ) Trong mỗi doanh nghiệp này, các cổ đông đã có các lợi ích của họ trong các doanh nghiệp nổi bật nâng cáo thiết yếu bởi mua lại tại mức giá hời. Chúng tôi cảm thấy rất thoải mãi các lợi sở hữu trong các doanh nghiệp như vậy điều này đưa ra kinh tế suất sắc kết hợp với những quản lý cổ đông có ý thức.
            Bảng sau đây trình bài chứng khoán ròng cuối năm 1984 trong thị trường vốn. Tất cả các con số loại trừ các quyền lợi tính cho các cổ đông thiểu sổ của Wesco và Nebraska Furniture Mart.

            Nó đã hơn 10 năm kể từ khi nó đã là khó khăn bây giờ tới tìm kiếm các đầu tư vốn mà phù hợp cả 2 tiêu chuẩn chất lượng và các tiêu chuẩn số lượng của chúng tôi ở giá cả so với giá trị. Chúng tôi cố gắng tránh thỏa hiệp ở các tiêu chuẩn này, mặc dù chúng tôi nhận thấy không làm gì cả nhiệm vụ khó khăn nhất ở tất cả. (một chính khác nước Anh quy sự vĩ đại nước ông trong thế kỷ 19 thực hiện một chính sách ‘’masterly inactivity’’. Điều này là một chiến lược đơn giản hơn nhiều đối với sử gia tới khen ngợi hơn là đối với người tham gia sau này.)
Nebraska Furniture Mart
            Năm ngoái tôi đã giới thiệu tới bạn về Mrs. B (Rose Blumkin) và gia đình của bà. Tôi đã nói tới bạn họ tuyệt vời, và tôi đã nói bớt trường hợp. Sau môt năm nữa ở sự quan sát các tài năng vượt trội và cá tính của họ, tôi có thể thành thật nói rằng tôi chưa bao giờ đã nhìn thấy một nhóm quản lý mà cả những chức năng hoặc vận hành tốt hơn so với gia đình Blumkin.
            Mrs. B, chủ tịch hội đồng, bây giờ 90 tuổi, và mới đây được trích dẫn trong tờ báo địa phương bằng câu nói ‘’ I come home to eat and sleep, and that’s about it. I can’t wait until it gets daylight so I can get back to the business’’. Mrs. B ở cửa hàng 7 ngày một tuần, từ mở cửa tới đóng cửa, và có lẻ thực hiện nhiều quyết định trong một ngày hơn là hầu hết các CEOs làm trong một năm.
            Trong tháng 5 Mr.s đã được công nhận tiến sỹ danh dự trong nghiên cứu thương mại bởi đại học New York. (Bà là một sinh viên ‘’fast track’’: không một ngày trong cuộc sống của bà được tiêu dùng trong một phòng học trước khi bà nhận được bằng tiến sĩ. ) Những người nhận trước đây ở tấm bằng danh dự trong kinh doanh từ NYU bao gồm Clifton Grain, Jr., CEO của Exxon Corp; Walter Wriston, khi đó CEO của Citicorp; Frank Carry, khi đó CEO của IBM: Tom Murphy, khi đó CEO của General Motors; và, gần đây nhất, Paul Volcker. (họ ở trong công ty tốt)
            Dòng máu Blumkin đã không chảy yếu. Louie, Mrs. B’son, và 3 người em của ông, Ron, Irv, và Steve, tất cả góp phần trong tất cả đo lường thành công kinh ngạc của NFM. Thế hệ trẻ đã  tham gia trường kinh doanh tốt nhất – được dẫn đường bởi Mrs. B và Louie – và sự dạy dỗ của họ là bằng chứng trong hiệu quả của họ.
            Năm ngoái doanh thu ròng của NFM tăng thêm bằng $14,3 triệu mang tới tổng  $115 triệu, tất cả từ một cửa hàng trong Omaha. Điều đó cho đến nay khối lượng lớn nhất được tạo ra bởi một cửa hàng thiết bị gia đình trong nước Mỹ. Thực tế, lợi nhuận trong doanh thu năm ngoái tự bản thân nó lớn hơn so với khối lượng hằng năm của nhiều cửa hàng thành công khá lớn. Doanh nghiệp đạt được thành công này tại vì nó xứng đáng thành công này. Một vài con số sẽ nói tới bạn tại sao. 
            Trong tài khóa 1984 10-k, người bán lẻ chuyên môn độc lập lớn nhất trong nước, Levitz Furniture, đã miêu tả các giá cả của nó như ‘’generally lower than the prices charged by conventional furniture stores in its trading are’’. Levitz, trong năm đó, đã hoạt động tại lợi nhuận gộp 44,4% (điều đấy là, trên trung bình, những người tiêu dùng đã chi trả nó $100 cho hàng hóa mà đã có chi phí nó $55,6 thuộc về mua). Lợi nhuận gộp tại NFM là không nhiều hơn một nửa số đó. Đánh dấu giá thấp của NFM là có thể thực hiện được tại vì hiệu quả kỳ vọng của nó: các chi phí hoạt động (tiền lương, tiền thuê, quảng cáo, etc. ) khoảng 16,5% giá bán so với 36,5% tại Levitz.
            Không ai trong số này chỉ trích Levitz, cái có một hoạt động quản lý tốt. Nhưng hoạt động NFM đơn giản là khác thường (và, nhớ rằng, nó tất cả đến từ một đầu tư $500 bởi Mrs. B trong năm 1937). Do hiệu quả chưa từng có và sắc sảo khối lượng mua, NFM có khả năng kiếm được lợi nhuận trên vốn tuyệt vời trong khi tiết kiệm khách hàng của nó tối thiểu $30 triệu hằng năm từ những gì, trung bình, nó sẽ tiêu tốn tới họ mua hàng hóa tương tự tại các cửa hàng duy trì kiểu mark-ups[1]. Các tiết kiệm như vậy bảo đảm NFM tới tiếp tục mở rộng phạm vi địa lý và theo đó tới tăng trưởng có được tốt xa hơn tăng trưởng tự nhiên ở thị trường Omaha.
            Tôi đã hỏi một số người chỉ ra những bí mật Blumkins mang vào doanh nghiệp của họ. Ở đây không hết sức bí truyền. Tất cả các thành viên gia đinh: (1) chuyên tâm chính bản thân họ với một sự nhiệt tình và sinh lực mà khiến Ben Franklin và Horatio Alger có vẻ bỏ học nửa chừng. (2) xác định rõ đối với hiện thực phi thường khu vực của họ ở khả năng đặc biệt và kiên định hành động trên tất cả các vấn đề trong phạm vi; (3) lờ đi thậm chí hầu hết các đề nghị dụ dỗ thất bại bên ngoài về điều đó ở khả năng đặc biệt; và, (4) luôn luôn hoạt động trong một cách cao cấp với mọi người họ đối phó. (Mrs. B tóm lại ‘’sell cheap và tell the truth’’. )
            Sự định giá của tôi ở tính chính trực của Mrs. B và gia đình của bà được chính minh khi chúng tôi mua 90% doanh nghiệp: NFM đã không bao giờ có một kiểm toán và chúng tôi đã không đòi hỏi kiểm toán; chúng tôi không mất một hàng tồn kho cũng không thẩm tra các khoản phải thu; chúng tôi không kiểm tra quyền sở hữu đất đai. Chúng tôi gửi tới Mrs. B một tấm séc $55 triệu và bà gửi tới chúng tôi chữ viết của bà. Điều đó khiến giao dịch sòng phẳng.
            Bạn và tôi may mắn tới mối quan hệ đối tác với gia đình Blumkin..
See’s Candy shops, Inc.
            Dưới đây là tóm tắt thường lệ của chúng tôi ở hiệu suất See bắt đầu từ khi mua bởi Blue Chip Stamps:
           
            Hiệu suất này đã không đem lại bằng một xu hướng đang lên thông thường. Điều trái ngược, nhiều người tham gia nổi tiếng trong ngàng hộp chocolate không mất tiền trong thời gian tương tự này hoặc đã có lợi nhuận nhỏ. Tới sự hiểu biết chúng tôi, chỉ có một đối thủ cạnh tranh to lớn đã đạt được khả năng sinh lời cao. Thành công của See phản ánh sự kết hợp của sản phẩm kỳ vọng, một người quản lý kỳ vọng, Chuck Huggnins.
             
11/10/2015          
            Trong thời gian năm 1984, chúng tôi tăng giá ít đáng kể so với đã thực hiện trong các năm gần đây: mỗi – pound bán là $ 5.49, chỉ tăng 1.4% từ năm 1983. May mắn, chúng tôi đã phát triển tốt trong kiểm soát chi phí, một phạm vi gây ra các vấn đề của chúng tôi trong các năm gần đây. Chi phí mỗi pound[2] - khác hơn các nguyên liệu thô đó, một phân khúc chi phí bên ngoài lớn ở kiểm soát chúng tôi tăng thêm chỉ bằng 2,2% năm ngoái.
            Vấn đề kiểm soát chi phí của chúng tôi đã tệ hơn bởi vấn đề số lượng suy giảm một ít (được đo lường bởi pounds, không phải $) trên cơ sở cửa hàng tương tự. Tổng pounds đã bán thông qua cửa hàng trong các năm gần đây đã được duy trì tại mức cố định xấp xỉ chỉ bởi thêm ròng một vài cửa hàng hằng năm. Nhiều cửa hàng hơn để có được vị thế khối lượng giống nhau vốn dĩ đặt nặng sức ép trên các chí phí bán hàng mỗi pounds. 
            Trong năm 1984, số lượng cùng một cửa hàng giảm 1.1%. Tổng khối lượng cửa hàng, tuy vậy, tăng 0,6% tại vì tăng thêm cửa hàng
            Kinh doanh của See hướng tới có được một ít theo mùa mỗi năm. Trong 4 tuần trước khi Christmas, chúng tôi làm 40% khối lượng của năm và kiếm được khoảng 75%  lợi nhuận của năm. Chúng tôi ngoài ra kiếm được số tiền đáng kể trong thời gian ngày Easter và Valentine, nhưng khá nhiều sóng bước phần còn lại của năm. Trong các năm gần đây, khối lượng cửa hàng tại ngày Christmas đã tăng trưởng tương đối quan trọng, và thậm chí có các đơn hàng chất lượng qua người đặt và mail. Tăng thêm tập trung của doanh nghiệp trong giai đoạn Christmas sinh ra vô số các vấn đề quản lý, tất cả trong số đó đã được Chuck và cộng sự của anh ấy đảm nhiệm với kỹ năng và thái độ nổi bật.
            Các giải pháp của họ có không theo hướng cần phải thỏa hiện trong hoặc chất lượng dịch vụ hoặc chất lượng sản phẩm. Hầu hết các đối thủ cạnh tranh lớn có thể không nói như thế. Mặc dù đối mặt với một chút ít khắc nghiệt đỉnh và  thung lũng cầu hơn chúng tôi, họ thêm vào các chất bảo quản hoặc đông lạnh sản phẩm cuối cùng nhằm giải quyết chu kỳ sản xuất và theo đó các chi phí đơn vị thấp hơn.  Chúng tôi loại bỏ các kỹ thuật, chọn lựa đó, trên thực tế, cho sản xuất nhức đầu hơn là sản phẩm biến đổi.
            Các cửa hàng phố mua sắm lớn của chúng tôi đối mặt số đông thức ăn mới và nhà cung cấp đồ ăn nhẹ mà đưa ra rất nhiều cạnh tranh mạnh mẽ cụ thể tại những ngày non - holiday. Chúng tôi cần phải các sản phẩm mới phản công và trong năm 1984 chúng tôi giới thiệu 6 thanh kẹo mà, nhìn chung, đáp ứng với sự đón nhận tốt. Các sự giới thiệu sản phẩm thêm nữa được lên kế hoạch.
            Trong năm 1985 chúng tôi sẽ tăng cường nỗ lực bản thân tới giữ chi phí mỗi pound tăng thêm dưới tỷ lệ lạm phát. Tiếp tục thành công trong các nỗ lực này, tuy vậy, sẽ đòi hỏi tăng hoa hồng trong cùng một cửa hàng.  Giá cả trong năm 1985 sẽ trung bình 6% - 7% bên trên năm 1984. Giả sử không có sự thay đổi trong khối lượng cửa khách giống nhau, lợi nhuận nên cho thấy mức tăng vừa phải.
Buffalo Evening News
            Lợi nhuận tại News trong năm 1984 lớn hơn đáng kể so với chúng tôi đã kỳ vọng. Như tại New, sự tiến bộ xuất sắc đã tạo ra kiểm soát chi phí. Loại trừ thời gian làm việc trong văn phòng tòa soạn, tổng thời gian lao động giảm đi khoảng 2,8%. Với hiệu suất cải thiện này, tổng các chi phí tăng thêm chỉ 4,9%. Thực hiện điều này bởi Stan Lipsey và nhóm quản lý của anh là một trong những nhóm tốt nhất trong ngàng.
            Tuy vậy, chúng tôi bây giờ đối mặt tăng thêm nhanh chóng trong các chi phí. Trong giữa năm 1984 chúng tôi đã ký các hợp đồng công đoàn nhiều năm mới mà đưa ra cho một quy mô ‘’catch – up ‘’ tiền lương tăng thêm. Catch – up này hoàn toàn thích hợp: tinh thần hợp tác ở công đoàn chúng tôi trong giai đoạn không thuận lợi 1977 – 1982 là một nhân tố quan trọng thành công trong duy trì chi phí cạnh tranh với Courier – Express. Nếu chúng tôi không giữ được các chi phí giảm, kết quả của sự đấu tranh này có thể cũng đã khác.
            Tại vì các hợp đồng công đoàn mới có hiệu lực tại các ngày khác nhau  một ít tăng thêm catch – up được phản ánh trong các chi phí của chúng tôi năm 1984. Nhưng sự tăng thêm sẽ hầu hết hoàn toàn hiệu lực trong năm 1985 và, theo đó, chi phí mỗi lao động của chúng tôi sẽ gia tăng trong năm nay tại một tỷ lệ cao hơn đáng kể so với ngàng. Chúng tôi kỳ vọng giảm nhẹ sự tăng thêm nay bởi tiếp tục các lợi ích nhỏ trong năng suất, nhưng chúng tôi không thể tránh các chi phí tiền lương cao hơn đáng kể năm nay. Xu hướng giá cả giấy báo in cũng ít thuận lợi bây giờ, so với chúng trong năm 1984. Chủ yếu tại vì ở 2 nhân tố này, chúng tôi nghĩ rằng chí ít một co nhỏ trong lợi nhuận tại News.
                    Làm việc ưu thích của chúng tôi tại News là 2 nhân tố quan trọng của tầm quan trọng kinh tế chủ yếu.
1)    Tổng số phát hành được tập trung tới một mức độ khác thường trong khu vực tiện ích tối đa tới những nhà quảng cáo của chúng tôi. Báo “Regional” với lượng phát hành phạm vi rộng, mặt khác, có một phần chia đáng kể ở lượng phát hành của họ trong khu vực mà là tiện ích không đáng kể tới hầu hết những nhà quảng cáo. Một người đăng ký cách xa vài trăm dặm là không nhiều về một khách hàng tiềm năng cho con chó bạn đang chào bán qua mục rao vặt trong quảng cáo – cũng không tạp phẩm với các cửa hàng duy nhất trong chỉ trong khu vực đô thị. Tổng số phát hành “Wasted” – như những nhà quảng cáo gọi nó – tổn thương khả năng sinh lời: chi phí của một tờ báo được xác định ở mức độ lớn bởi toàn bộ lượng phát trong khi doanh thu quảng cáo (thông thường 70% - 80% tổng doanh thu) đáp lại chỉ duy tới lượng phát hành có ích.
2)    Sự thâm nhập của chúng tôi ở thị trường bán lẻ Buffalo là ngoại lệ; những nhà quảng cáo có thể vươn tới hầu hết tất cả các khách hàng tiềm năng của họ sử dụng duy nhất News.
Năm ngoái tôi đã nói với bạn về sự chấp nhận người đọc đáng chú ý: giữa 100 tờ báo lớn nhất nước, chúng tôi khi đó số 1, hằng ngày, và số 3, Sunday, trong sự thâm nhập. Hầu hết các con số gần đây diễn tả vị trí số 1 trong sự thâm nhập trong ngày thường và thứ 2 trong Sunday. (Mặc dù vậy, con số các hộ gia định trong Buffalo đã suy giảm, thậm chí lượng phát hành ngày thường hiện hành nhỏ xuống; Sundays nó là không thay đổi)
Tôi đã nói với bạn rằng một lý do quan trọng cho sự chấp nhận khác thường bởi người đọc là chất lượng khác thường của tin tức chúng tôi cung cấp tới họ: một phần trăm lớn hơn ở tờ báo chúng tôi đã dành cho tin tức hơn là trường hợp tại bất cứ tờ báo chi phối khác trong phạm vi kích thích của chúng tôi. Trong năm 1984, tỷ lệ “news hole” là 50,9%. (so với 50,4% năm 1983), một mức trên nhiều tiêu biểu 35% - 40%. Chúng tôi tiếp tục duy trì tỷ lệ này trong phạm vi 50%. Ngoài ra, mặc dù chúng tôi năm ngoái giảm tổng thời gian làm việc trong các phòng ban khác, chúng tôi duy trì mức độ nhân viên trong phòng biên tập tin tức và, lần nữa, sẽ tiếp tục làm như vậy. Chi phí phòng biên tập tin tức tăng 9,1% trong năm 1984, một gia tăng lớn hơn nhiều tăng thêm chi phí toàn bộ 4,9%.
Chi phí chính sách new hole chúng tôi tăng tiền đáng kể cho giấy in báo. Như một kết quả, các chi phí tin tức bằng một % doanh thu cao hơn hầu hết các tờ báo chủ đạo quy mô chúng tôi. Chỗ đó là phạm vi thích ứng, tuy vậy, cho các tờ báo của chúng tôi hoặc bất cứ tờ báo chi phối khác duy trì chi phí này: sự khác biệt giữa chi phí tin tức “cao” và “thấp” tại các tờ báo so sánh quy mô hoạt động có lẽ 3 điểm % trong khi lợi nhuận trước thuế thường 10 lần.
Tính kinh tế của một tờ báo chiếm chi phối là tuyệt vời, giữa cái tốt nhất trong thế giới kinh doanh. Những người sở hữu, đương nhiên, sẽ thích tin tưởng rằng khả năng sinh lời kỳ diệu của chúng kiếm được duy chỉ tại vì chúng luôn luôn bật ra sản phẩm kỳ diệu. Lý thuyết thoải mãi đó nản lòng trước một thực tế không thoải mãi. Trong khi các tờ báo hạng nhật tạo ra lợi nhuận tuyệt vời, lợi nhuận các tờ báo hạng 3 tốt hoặc tốt hơn – miễn là cả 2 vượt trội trong phạm vi cộng đồng của nó. Dĩ nhiên, chất lượng sản phẩm có thể là quyết định tới tờ báo trong đạt được sự vượt trội. Chúng tôi tin tưởng điều này là trường hợp tại News, trong phần rất lớn, tại vì những người như Alfred Kirchhofer người đã đi trước chúng tôi.
Khi mà tính vượt trội, tờ báo bản thân nó, không trên thị trường, xác định đúng làm thế nào tốt hoặc làm thế nào xấu tờ báo sẽ là. Tốt hoặc xấu, nó sẽ thành công. Điều đấy không đúng hầu hết các doanh nghiệp: chất lượng sản phẩm tồi thông thường tạo ra tính kinh tế thấp kém. Nhưng thậm chí một tờ báo nghèo là một giá hời tới hầu hết công dân đơn giản tại vì giá trị “bảng thông báo” của nó. Các thứ khác như nhau, một sản phẩm nghèo nàn sẽ không giành được hoàn toàn mức độ độc giả đạt được bởi một sản phẩm hạng nhất. Một sản phẩm nghèo nàn, tuy vậy, sẽ vẫn còn cần thiết tới hầu hết công dân, và các mệnh lệnh chú ý của chúng sẽ truyền được sự chú ý tới những người quảng cáo.
Từ khi các tiêu chuẩn cao hơn không được áp đặt bởi thị trường quản lý phải áp đặt của riêng mình. Trách nhiệm chúng tôi tới tiêu dùng bên trên trung bình cho các tin tức đại diện một tiêu chuẩn định lượng quan trọng.  Chúng tôi có tin tưởng rằng Stan Lipsey và Murray Light sẽ tiếp tục áp dụng các tiêu chuẩn định lượng quan trọng nhiều hơn. Charlie và tôi tin tưởng rằng các tờ báo là các tổ chức hết sức đặc biệt trong xã hội. Chúng tôi tự hào về News, và ý định thậm chí sự kiêu hãnh to hơn tới hợp lý trong các năm phía trước.
Insurance Operations (20/12)
            Bảng dưới trình bày phiên bản cập nhật  danh sách bảng thường dùng 2 con số chính cho ngàng công nghiệp bảo hiểm

            Dữ liệu của Best phản ánh sự trải qua thực tiễn toàn bộ ngàng, bao gồm cổ phiếu, công ty đầu tư tín thác, và các công ty tương hỗ. The combined ration = tổng các chi phí bảo hiểm (các thua lỗ gánh chịu + các chi phí) / doanh thu từ phí bảo hiểm; tỷ lệ < 100 cho biết một lợi nhuận bảo hiểm, và > 100 cho biết thua lỗ.
            Đối với một số năm, chúng tôi có nói với bạn rằng một tăng thêm hằng năm bởi ngàng 10% mỗi năm trong premiums written là cần thiết cho combined ration  đại thể không thay đổi. Chúng tôi đã giả định trong thực hiện mà xác nhận các chi phí như phần trăm của khối lượng phí bảo hiểm sẽ ở lại tương đối ổn định và các thua lỗ sẽ tăng trưởng khoảng 10% tại vì ảnh hưởng kết hợp của tăng thêm khối lượng đơn vị, lạm phát, và các phát quyến tòa án mà  mở rộng  bao phủ bởi chính sách bảo hiểm.
            Quan điểm của chúng tôi đang xác nhận thất vọng xác đáng: phí bảo hiểm tăng thêm 10% mỗi năm từ năm 1979 sẽ phải đem lại một tổng tăng thêm đến hết năm 1984 bằng 61% và combined ration năm 1984 hầu như giống hệt là 100.6 của năm 1979. Thay cho, ngàng chỉ có tăng thêm 30% trong phí bảo hiểm và năm 1984 combined ration = 117.7. Ngày nay, chúng tôi tiếp tục tin tưởng rằng chỉ số quan trọng  tới xu hướng của khả năng sinh lời bảo hiểm là % thay đổi  năm này sang năm khác trong khối lượng phí bảo hiểm ngàng.
            Nó bây giờ xuất hiện rằng khối lượng phí bảo hiểm năm 1985 sẽ tăng trưởng tốt trên 10%. Theo đó, giả định rằng các tai ương là mức độ “thông thường”, chúng tôi sẽ kỳ vọng combined ration bắt đầu dễ dàng xu hướng đi xuống cuối năm. Tuy vậy, dưới ảnh hưởng thua lỗ ngàng, 5 năm ở tăng thêm 15% trong phí bảo hiểm sẽ được cần đến để có combined ratio trở về 100. Điều này có nghĩa một sự gấp đôi khối lượng ngàng bởi năm 1989, kết quả dường như cao hơn không chắc tới chúng tôi. Thay vào đó, chúng tôi kỳ vọng vài năm ở  tăng phí bảo hiểm một chút trên 10%, theo sau bởi định giá cạnh tranh cao hơn rằng thông thường sẽ tạo ra combined rations trong phạm vi 109 – 113.
            Combined ration năm 1984 thấp kém là 134.  Đây là năm thứ 3 trong một dòng mà hiệu suất bảo hiểm của chúng ta đã bị nghèo hơn ngàng. Chúng tôi kỳ vọng cải thiện trong combined ration trong năm 1985, và ngoài ra kỳ vọng sự tiến bộ của chúng tôi về căn bản lớn hơn ngàng. Mike Goldberg đã có điều chỉnh nhiều ở các sai lầm tôi đã thực hiện trước khi anh ấy tiếp nhận hoạt động bảo hiểm. Ngoài ra, kinh doanh của chúng tôi tập trung trong các đường mà có trải nghiệm nghèo hơn so với các kết quả trung bình trong thời gian 1 thập kỷ qua, và rằng các hoàn cảnh đã có bắt đầu tới chinh phục nhiều đối thủ cạnh tranh của chúng tôi, và thậm chí loại bỏ một số. Với rung lắc cạnh tranh, chúng tôi khả năng trong thời gian một nửa năm 1984 gia tăng giá đáng kể trong các đường quan trọng chắc chắn với một ít thua lỗ của doanh nghiệp.
            Nhiều năm tôi đã nói với bạn rằng điều đó có thể 1 ngày trở nên khi trên hết sức mạnh tài chính sẽ tạo một sự khác biệt thực tế trong vị thế cạnh tranh của hoạt động bảo hiểm. Ngày đó có thể đã vừa đến. Chúng tôi hầu hết không có câu hỏi hoạt động bảo hiểm tài sản/tai nạn lớn nhất trong nước, với một vị thế vốn cao hơn nhiều ở các công ty danh tiếng  với quy mô lớn hơn.
            Quan trọng không kém, chính sách công ty giữ lại điều tốt hơn. Người mua bảo hiểm không chỉ nhận một lời cam kết trong  trao đổi với tiền mặt của anh ta. Giá trị của cam kết nên được định giá dựa vào khả năng những điều không may, không phải sự thịnh vượng. Ở mức tối thiểu, sự cam kết nên xuất hiện khả năng chống lại một sự kết hợp kéo dài ở các thị trường tài chính suy yếu và các kết quả bảo lãnh không tốt tất thường. Các công ty con bảo hiểm vừa sẵn sàng và vừa khả năng giữa các cam kết của họ trong bất cứ môi trường như vậy – và không quá nhiều các công ty khác rõ ràng.
            Sức mạnh tài chính của chúng tôi là một tài sản cụ thể trong kinh doanh ở các cấu trúc thỏa thuận và dự trữ thua lỗ những chứng minh chúng tôi đã phân tích năm ngoái. Nguyên đơn trong một cấu trúc thỏa thuận và công ty bảo hiểm đó có tái bảo hiểm dự trữ thua lỗ cần hoàn toàn tự tin các thanh toán thập kỷ sắp tới. Rất ít các công ty trong lĩnh vực tài sản/tai nạn có thể phù hợp bài kiểm tra này ở không nghi vấn sức mạnh dài hạn.
            Chúng tôi có tăng trưởng trong các dòng hoạt động mới này: các nguồn so chúng tôi nắm giữ tới bù đắp tăng trưởng nợ phải trả từ $16,2 triệu tới $30,6 triệu trong khoảng thời gian một năm. Chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng tiếp tục và có lẽ đẩy nhanh đáng kể. Tới hỗ trợ tăng trưởng dự án này chúng tôi đã có thêm căn bản vốn tới công ty bảo hiểm Columbia, đơn vị tái bảo hiểm chuyên về cấu trúc thỏa thuận và giả định dự trữ thua lỗ. Trong khi các công ty này rất cạnh tranh, lợi nhuận nên thỏa đáng.
            Các tin tức ở GEICO, như thường lệ, hầu hết tốt. Công ty đã hoàn thành xuất sắc tăng trưởng đơn vị trong các công ty bảo hiểm hàng đầu của nó trong năm 1984, và hiệu quả ở danh mục đầu tư tiếp tục đặc biệt. Mặc dù các kết quả bảo lãnh xấu hơn cuối năm, họ vẫn còn duy trì tốt hơn so với cái ở ngàng. Phần sở hữu của chúng ta trong GEICO tại thời điểm cuối năm lên tới 36% và theo đó lợi ích trực tiếp chúng ta trực tiếp trong khối lượng phí bảo hiểm tài sản/ tai nạn $885 triệu lên tới $320 triệu, hoặc tốt hơn gấp đôi khối lượng phí bảo hiểm của chúng ta.
            Tôi đã phân tích tới bạn trong quá khứ vài năm trước rằng hiệu quả của cổ phiếu GEICO có đáng kể vượt quá mà hiệu quả kinh doanh của công ty, rực rỡ sau này đã được. Trong các năm đó, giá trị thực hiện đầu tư ở GEICO vào bảng cân đối kế toán chúng ta tăng trưởng tại tỷ lệ lớn hơn tăng trưởng trong giá trị nội tại GEICO. Tôi đã cảnh báo bạn rằng qua hiệu quả bằng cổ phiếu liên quan tới hiệu quả của doanh nghiệp rõ ràng không thể xuất hiện mỗi năm, và rằng trong nhiều năm cổ phiếu phải hoạt động kém kinh doanh. Trong năm 1984 đã xuất hiện và giá trị thực hiện vào lợi ích của chúng tôi trong GEICO đã thay đổi khắc nghiệt ở tất cả, trong khi giá trị nội tại doanh nghiệp ở đó lợi ích tăng thêm đáng kể. Từ 27%  giá trị ròng của Berkshire bắt đầu năm 1984 đã biểu thị qua GEICO, giá trị thị trường tĩnh của nó có một tác động đáng kể vào tỷ lệ tăng cho năm. Chúng tôi không tất cả không hạnh phúc với một kết quả như thế: chúng tôi sẽ xa hơn, có doanh nghiệp giá trị ở GEICO tăng thêm bằng X trong khoảng thời gian 1 năm, trong khi giá trị thị trường suy giảm, so với có giá trị nội tại tăng thêm chỉ bởi ½ X với giá trị thị trường bay vọt. Trong trường hợp GEICO, như trong tất cả các đầu tư của chúng tôi, chúng tôi mong đợi hiệu quả doanh nghiệp, không phải hiệu quả thị trường. Nếu chúng tôi đúng trong các mong đợi liên quan doanh nghiệp, thị trường thực tế sẽ theo sau.
            Bạn, như các cổ đông của Berkshire, đã được lợi to lớn từ những tài năng của GEICO Jack Byrne, Bill và Lou Simpson. Trong kinh doanh cốt lõi của nó – bảo hiểm homewners và ô tô giá thấp – GEICO có một lợi thế lớn, chịu được cạnh tranh. Đó là một tài sản hiếm có trong doanh nghiệp nói chung, và nó hầu như không tồn tại trong lĩnh vực dịch vụ tài chính.( GEICO, bản thân nó, điển hình điểm này: mặc dù quản lý suất sắc công ty, khả năng sinh lời tốt hơn đã lản tránh GEICO trong tất cả sự cố gắng khác so với kinh doanh cốt lõi của nó). Trong ngàng công nghiệp lớn, một lợi thế cạnh tranh giống như GEICO đưa ra một tiềm năng cho các phần thưởng kinh tế đặc sắc, và Jack và Bill tiếp tục phô diễn kỹ năng tuyệt vời trong thực tế tiềm năng đó.
            Hầu hết các nguồn lực được tạo bởi hoạt động bảo hiểm cốt lõi GEICO được tạo ra sẵn sàng tới Lou cho đầu tư. Lou có sự kết hợp hiếm có ở nét đặc trưng thất thường và trí tuệ mà đưa ra hiệu quả đầu tư dài hạn nổi bật. Hoạt động với rủi ro thấp hơn trung bình, anh đã tạo ra những lợi nhuận mà xa hơn tốt nhất trong ngàng bảo hiểm. Tôi ủng hộ và đánh giá cao các nỗ lực và tài năng của 3 người quản lý nổi bật đó.
Errors in Loss Reserving
            Bất cứ cổ đông trong một công với với các lợi ích quan trọng trong doanh nghiệp bảo hiểm tài sản/ tai nạn sẽ nên có nhiều hiểu biết cố hữu trọng yếu trong tường thuật ở thu nhập hiện nay trong ngàng. Phil Graham, khi người xuất bản ở Washington Post, được tờ báo hằng ngày miêu tả như” a first rough draft of history”. Thật không may, các báo cáo tài chính của công ty bảo hiểm tài sản/ tai nạn cung cấp, lúc tốt nhất, chỉ duy nhất một bản dự thảo thô của các điều kiện thu nhập và tài chính.
            Xác định các chi phí là vấn đề chính. Hầu hết các chi phí một công ty bảo hiểm kết quả từ gánh vác bồi thường và nhiều thua lỗ đó nên được tính vào đối với doanh thu năm hiện tại là khó khăn đặc biệt tới dự đoán. Đôi khi mở rộng thua lỗ đó, hoặc thậm chí sự tồn tại của chúng, không được nhận biết trong hàng thập kỷ.
            Chi phí tổn thất trong báo cáo kết quả kinh doanh hiện tại của công ty bảo hiểm tài sản/ tai nạn miêu tả:  (1)  lỗ xuất hiện và được trả trong năm; (2) ước lượng đối với các khoản lỗ xuất hiện và được báo cáo tới công ty bảo hiểm trong thời gian năm, nhưng cái đó có hay chưa đã được giải quyết. (3) Dự báo các chi phí $ cuối cùng cho khoản lỗ xuất hiện trong năm nhưng công ty bảo hiểm không biết; và (4) ảnh hưởng ròng ở sự xem xét lại năm này ở các dự đoán tương tự cho (2) và (3) được thực hiện trong quá khứ.
            Sự xem lại đó có thể được trì hoãn dài, nhưng thực tế bất cứ dự đoán các khoản lỗ đó căn nguyên thu thập cho năm X tới năm X + 10 tới trình bày sai có thể được hiệu chỉnh, có hay không năm X + 1, hoặc X + 10. Điều này, tất yếu, nghĩa rằng các thu nhập trong năm hiệu chỉnh cũng được trình bày sai. Ví dụ, giả định một bồi thường tai nạn bởi một công ty bảo hiểm của chúng ta năm 1979 và chúng ta nghĩ một sự giải quyết khả năng phải thực hiện $10 000. Năm đấy chúng ta sẽ có ghi nợ $10.000 tới báo cáo kết quả kinh doanh cho chi phí được dự đoán ở khoản lỗ và, tương ứng, lập dự phòng nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán cho số tiền đó. Nếu chúng ta đã thanh toán bồi thường trong năm 1984, chúng ta sẽ tính các thu nhập với một chi phí thua lỗ bằng $90.000 trong năm 1984, mặc dù chi phí thực sự một chi tiêu năm 1979, chúng tôi sẽ có sai lầm tệ hại như vào các chi phí, và bạn như vào các thu nhập.
            Số lượng lớn nhất thiết dùng đánh giá trong thu nhập các con số xuất hiện trong đánh giá rõ ràng lừa dối hình thành trong báo cáo kết quả kinh doanh ở các công ty property/ casualty trung bình mà nhiều sai lầm phải thấm vào, cho dù làm thế nào phù hợp mục đích của người quản lý. Trong một cố gắng tới sai xót tối thiểu, hầu hết các công ty bảo hiểm sử dụng các kỹ thuật phân tích khác nhau tới điều chỉnh hàng nghìn đánh giá thua lỗ cá biệt bao gồm nguyên liệu thô cho ước lượng ở tổng nợ phải trả. Thêm những dự trữ được tạo ra bởi được điều chỉnh này được dán nhãn riêng “bulk”, “development”, hoặc “supplemental” reserves. Mục đích của các điều chỉnh nên là một tổng dự trữ thua lỗ mà có may mắn 50-50 được chứng mình là 1 trong 2 cao không đáng kể hoặc thấp không đáng kể khi tất cả các thua lỗ được xuất hiện trước ngày báo cáo tài chính cuối cùng được nộp.
            Tại Berkshire, chúng tôi  đã có tính vào những gì chúng tôi nghĩ là thích hợp bổ sung dự trữ nhưng trong các năm gần đây chúng đã không còn thích đáng. Nó là điều quan trọng rằng bạn biết tính trọng yếu của các sai xót đó đã có liên quan trong dự trữ của chúng tôi. Bạn có thể theo đó nhìn cho chính bản thân làm thế nào mơ hồ phương pháp, và ngoài ra xét đoán có hay không chúng tôi có nhiều sai số hệ thống mà sẽ tạo nên bạn thận trọng ở các con số hiện tại và tương lai.
            Bảng dưới đây diễn tả các kết quả từ bảo lãnh bảo hiểm như chúng tôi có trình bày tới bạn trong các năm gần đây, và ngoài ra gửi tới bạn tính toán năm trước dựa trên cơ sở” If we knew then what we think we know now”. Tôi nói”what we think we know now” tại vì các con số điều chỉnh vẫn còn bao gồm nhiều đánh giá quan trọng cho khoản lỗ đã xuất hiện trong những năm đầu. Tuy vậy, nhiều yêu cầu từ những năm đầu đã có được giải quyết do đó nội dung đánh giá 1 năm sau này chúng tôi bớt đi ước chừng công việc so với đánh giá đầu năm   
           

            Giúp bạn hiểu biết bảng này, ở đây một sự giải thích hầu hết các con số gần đây: năm 1984 lỗ bảo lãnh trước thuế $54,4 triệu bao gồm $27,6 triệu chúng tôi ước lượng rằng chúng tôi thua lỗ kinh doanh năm 1984, + tăng thêm thua lỗ $17,8 triệu được phản ánh trong con số hiệu chỉnh cho năm 1983.
            Như bạn có thể nhìn từ xem xét lại bảng, các sai sót của tôi trong báo cáo tới bạn có đáng kể và gần đây luôn luôn được đại diện một bức tranh bảo lãnh tốt hơn so với hoàn cảnh thực tế. Điều này là điểm bắt đầu ở sự thất vọng cụ thể tới tôi tại vì: (1) tôi thích dành cho bạn khả năng tin tưởng những gì tôi nói; (2) những người quan lý bảo hiểm và tôi chắc chắn hành động với ít sự gấp rút so với chúng tôi sẽ có chúng tôi hiểu biết đầy đủ qui mô ở các khoản lỗ của chúng tôi; và (3) chúng tôi thanh toán thuế thu nhập được tính toán trên cường điệu thu nhập và bằng cách ấy đưa chính phủ tiền mà chúng tôi không cần để (Thanh toán vượt mức thực tế tốt bản thân chúng, nhưng trì hoãn dài và chúng tôi không nhận lợi ích dựa trên số lượng chúng tôi đã nộp thừa.)
            Tại vì kinh doanh của chúng tôi là trọng số đối với tai nạn và dòng tái bảo hiểm, chúng tôi có nhiều vấn đề trong dự đoán các chi phí thua lỗ hơn so với các công ty mà cụ thể trong bảo hiểm tài sản. Nhưng tôi vẫn còn nhận thấy các sai xót cản trở. Trong kinh doanh trực tiếp của chúng tôi, chúng tôi có đánh giá không đúng mức rất nhiều xu hướng mọc lên như nấm của các hội đồng xét xử và tòa án tới thực hiện nộp “deep pocket”, bất chấp hoàn cảnh thực tế và các sự kiện tiền lệ quá khứ cho xác minh nợ phải trả. Ngoài ra chúng tôi có đánh giá không đúng mức ảnh hưởng lây chuyền mà công khai liên quan số tiền chi trả khổng lồ có trên ban bồi thẩm. Trong khu vực tái bảo hiểm, ở đó chúng tôi đã có trải nghiệm tồi tệ nhất dưới dự trữ, các công ty bảo hiểm khách hàng của chúng tôi đã tạo ra các sai lầm giống thế. Từ khi chúng tôi thiếp lập dự trữ dựa trên thông tin họ cung cấp cho chúng tôi, các sai lầm của họ trở thành các sai lầm của chúng tôi.
            Tôi có nghe một câu chuyện thích hợp tới các vấn đề kế toán bảo hiểm của chúng tôi: một người đàn công đang du lịch nước ngoài khi đó anh nhận được một cuộc gọi chị gái anh ta thông báo rằng bố của họ đã chết đột xuất. Thể chất không cho người em quay trở lại ngôi nhà cho đám tang, nhưng anh ta nói với chị gái lo tổ chức đám tang và gửi hóa đơn tới anh ấy. Sau khi trở lại ngôi nhà anh đã nhận được hóa đơn vài nghìn $, cái anh ấy nhanh chóng thanh toán. Tháng tiếp theo hóa đơn khác đi cùng với $15, và anh chi trả quá nhiều. Thêm tháng khác tiêp theo, với một hóa đơn tương tự: khi nào, trong tháng tiếp theo, hóa đơn thứ 3 đã có mặt, anh đã gọi chị gái để hỏi những gì đang diễn ra”oh” she said. “ I forgot to tell you. Chúng ta chôn cất bố trong một giá thuê phù hợp.”’
            Nếu bạn đã trong công ty bảo hiểm trong những năm gần đây – cụ thể doanh nghiệp tái bảo hiểm – điều này câu chuyện tai hại. Chúng tôi đã tới bao gồm tất cả ở “rented suit” nợ phải trả trong báo cáo tài chính gần đây, nhưng ghi chép sai sót quá khứ sẽ làm chúng tôi thấp kém, và bạn nghi ngờ. Tôi sẽ tiếp tục báo cáo tới bạn các sai sót, cộng hoặc trừ, xuất hiện mỗi năm.
            Không phải tất cả sai sót dự trữ trong ngàng đã có sự đa dạng vô tội nhưng câm. Với các kết quả bảo lãnh tệ như chúng đã có trong những năm gần đây -  với những người quản lý có càng nhiều sự thận trọng như họ làm trong sự trình bày ở các báo cáo tài chính – nhiều khía cạnh không hấp dẫn ở bản chất con người đã rõ ràng bản thân chúng. Các công ty đó sẽ ra khỏi kinh doanh nếu họ thực tế đánh giá các chi phí thua lỗ có, trong nhiều trường hợp, đơn giản ưa thích nắm một lạc quan phi thường nhìn về tổng chưa nộp. Các thứ khác có tham gia trong các giao dịch khác nhau tới ẩn dấu các chi phí thua lỗ hiện tại.
            Cả 2 tiếp cận này có thể “work” cho 1 thời gian đáng kể: các kiểm toán bên ngoài không thể kiểm soát hiệu quả báo cáo tài chính ở các công ty bảo hiểm tài sản/ tai nạn. Nếu nợ phải trả của một công ty bảo hiểm, nói một cách chính xác, sẽ lớn hơn tài sản, nó giảm xuống công ty bảo hiểm tới tình nguyện thông tin ốm yếu này. Nói một cách khác, thi hài cần có file chứng tử. Dưới “honor system” của tỷ lệ tử vong, tử thi thỉnh thoảng gửi đến bản thân nó lợi ích ở sự nghi ngờ.
            Trong hầu hết doanh nghiệp, dĩ nhiên, các công ty vỡ nợ hết tiền mặt. Bảo hiểm là khác: bạn có thể túng quẫn nhưng đột ngột. Từ tiền mặt thu về tại điểm bắt đầu ở một chính sách bảo hiểm và thua lỗ bảo hiểm được trả quá nhiều sau này, các công ty bảo hiểm vỡ nợ không cạn tiền tiền mặt trước khi lâu sau chúng cạn kiệt giá trị ròng. Trong thực tế, “walking dead” thế này thường tăng cường thêm nỗ lực của họ tới write business, chấp nhận hầu hết tất cả giá hoặc rủi ro, đơn giản giữ dòng tiền vào trong. Với một thái độ như của người biển thủ người đã vung phí tiền đã bị ăn cắp quỹ của anh ta, các công ty này hi vọng rằng bằng cách này hay cách khác họ có thể nhận được may mắn trên đợt giao dịch tiếp theo và theo đó che đậy thâm hụt ban đầu. Thậm chí nếu họ không có được may mắn, sự bất lợi người quản lý luôn luôn không lớn hơn so với $100 triệu thâm hụt so với $10 triệu, trong khi chờ đợi, trong khi thua lỗ người quản lý giữ công việc họ và tiền thua lao.
            Sai sót thua lỗ - dự phòng của các công ty bảo hiểm tài sản/tai nạn khác nhiều hơn so với học thuật liên quan tới Berkshire. Không chỉ duy nhất Berkshire trải qua từ bán tại bất cứ giá cạnh tranh bởi “walking dead”, nhưng ngoài ra chúng tôi trải qua khi tình trạng không trả được nợ cuối cùng được thừa nhận. Thông qua các quỹ bảo lãnh nhà nước khác nhau mà định giá tiền, Berkshire cuối cùng trả một phần chia vỡ nợ thiếu hụt tài sản của công ty bảo hiểm, căng ra như họ thông thường bởi trì hoãn phát hiện các kết quả từ báo cáo sai. Thậm chí nhiều khả năng cho rắc rối đổ xuống như thác. Vỡ nợ của một vài công ty bảo hiểm lớn và các định giá bởi các quỹ bảo lãnh nhà nước mà sẽ theo đó có thể đẩy vào tình trạng hiểm nghèo yếu ớt nhưng mà các công ty bảo hiểm vỡ nỡ trước đó. Nguy hiểm như vậy có thể giảm nhẹ nếu những quản lý nhà nước trở nên tốt hơn về xác định nhanh chóng và chấm dứt vỡ nợ công ty bảo hiểm, nhưng sự tiến hành trong vấn đề này chậm.
Washington Public Power Supply System
            Từ tháng mười, 1983 đến tháng sáu, 1984 Các công ty con bảo hiểm của Berkshire tiếp tục mua khối lượng lớn trái phiếu ở Projects 1, 2, và 3 của Washington Public Power Supply System (“WPPSS”). Việc này cùng một thực thể, vào ngày 1/7/1983 đã vỡ nợ $2,2 tỷ trái phiếu được phát hành tới tài trợ một phần xây dựng của Projects bây giờ bị bỏ hoang 4 và 5. Trong khi chỗ đó khác biệt trọng yếu trong người giao ước, hứa hẹn, và các tài sản làm cơ sở 2 loại trái phiếu, các vấn đề của Projects 4 và 5 có một bóng đen nguy hiểm nên Projects 1,2, và 3, và có thể có lẽ gây ra các vấn đề nghiêm trọng cho người phát hành sau này. Thêm vào đó, đã có vô số vấn đề liên quan trực tiếp tới Projects 1,2 và 3 mà có thể làm yếu đi hoặc phá hủy vị thế tín nhiệm lớn khác gia tăng từ các bảo lãnh bởi Bonneville Power Administration.
            Mặc dù ở đây có tiêu cực trọng yếu, Charlie và Tôi đã phán xét các rủi ro tại thời điểm chúng tôi mua các trái phiếu và tại mức giá Berkshire trả (thấp hơn nhiều giá hiện tại) tới đáng kể nhiều hơn so với phần bù cho bởi triển vọng lợi nhuận.
            Như bạn biết, chúng tôi mua cổ phiếu thị trường cho các công ty bảo hiểm dựa vào tiêu chuẩn chúng tôi sẽ áp dụng trong mua một doanh nghiệp thực thể. Phương pháp định giá doanh nghiệp này là không phổ biến giữa nhà quản lý tiền tệ chuyên nghiệp và bị coi khinh bởi nhiều học giả. Tuy nhiên, nó có đáp ứng người theo sau nó tốt. Đơn giản, chúng tôi cảm thấy rằng nếu chúng tôi có thể mua phần nhỏ doanh nghiệp với thỏa mãn cơ bản kinh tế tại một phần của giá trị mỗi cổ phiếu ở doanh nghiệp thực thể, một vài điều tốt có khả năng xảy ra tới chúng tôi – đặc biệt nếu chúng tôi sở hữu nhóm các chứng khoán như vậy.
            Chúng tôi mở rộng phương pháp đánh giá doanh nghiệp này tới mua các trái phiếu chẳng hạn WPSS. Chúng tôi so sánh $139 triệu chi phí ở khoản đầu tư cuối năm trong WPPS tới một khoản đầu tư $139 tương tự trong một hoạt động doanh nghiệp. Trong trường hợp của WPPS, business” giao kèo kiếm $22,7 triệu sau thuế (qua trả lãi suất dựa trên các trái phiếu), và các thu nhập này có sẵn tới chúng tôi hiện thời trong tiền mặt. Chúng tôi không có khả năng mua doanh nghiệp hoạt động với kinh tế gần thế. Duy nhất một liên quan với kinh doanh kiếm được 16,3% sau thuế không đòn bẩy vốn rằng khoản đầu tư WPPS của chúng tôi làm và kinh doanh đó, khi nào sẵn có mua, bán tại tiền lãi lớn tới vốn. Trong giao dịch kinh doanh thương lượng, không đòn bẩy doanh nghiệp thu được $22,7 sau thuế (tương ứng khoảng $45 triệu trước thuế) có thể khiến phải mức giá $250 - $300 triệu (thỉnh thoảng nhiều hơn). Đối với một doanh nghiệp chúng tôi hiểu biết tốt và khỏe như thế chúng tôi sẽ vui vẻ trả nhiều hơn. Nhưng nó là gấp 2 giá chúng tôi trả thu được các thu nhập tương tự từ các trái phiếu WPPS.
            Tuy vậy, trong trường hợp của WPSS, đó là những gì chúng tôi nhìn nhận tương lai rủi ro không đáng kể mà “business”  có thể là giá trị không có gì trong khoảng thời gian 1 hoặc 2 năm. Chỗ đó còn rủi ro rằng các thanh toán quyền lợi có thể ngắt quãng giai đoạn thời gian đáng kể. Hơn nữa, hầu hết “business” có thể giá trị khoản $205 m mệnh giá ở các trái phiếu mà chúng tôi sở hữu, số lượng chỉ cao hơn 48% so với giá chúng tôi trả.
            Mức trần này vào tiềm năng phát triển là một điểm trừ trọng yếu. Nó nên được hiểu rõ, tuy vậy, phần lớn hoạt động kinh doanh bị giới hạn tiềm năng phát triển ngoài trừ khi nhiều vốn hơn tiếp tục được đầu tư trong chúng. Rằng như vậy là vì hầu hết các doanh nghiệp không có khả năng tận dụng ROE trung bình – thậm chí dưới các điều kiện lạm phát, thông qua việc này trước đây nghĩ tới tự động gia tăng lợi nhuận.
            (Hãy xô trái phiếu của chúng ta như một ví dụ kinh doanh như một mức hơn nữa: nếu bạn chọn “giữ lại” thu nhập hằng năm 12% trái phiếu bằng tiếp tục từ coupons tới mua nhiều trái phiếu hơn, thu nhập ở kinh doanh trái phiếu đấy sẽ tăng trưởng ở mức tỷ suất so sánh tới hầu hết doanh nghiệp kinh doanh rằng giống như tái đầu tư tất cả thu nhập.  Trong trường hợp đầu tiên, trái phiếu 30 năm, zero – coupon, 12% được mua hôm nay giá 10 triệu sẽ có giá trị $300 triệu năm 2015. Trong trường hợp thứ 2, $10 triệu kinh doanh mà thu nhập đều đặn 12% trên vốn và giữ lại tất cả thu nhập tăng lên, cũng sẽ kết thúc với $300 triệu vốn trong năm 2015. Cả 2 doanh nghiệp và trái phiếu sẽ kiếm được trên $32 triệu kết thúc năm.)
            Phương pháp chúng tôi tới đầu tư trái phiếu – qua nó như một loại kinh doanh khác thường với các ưu điểm và nhược điểm đặc biệt – có thể tấn công bạn một ít sự kỳ quặc. Tuy vậy, chúng tôi tin tưởng rằng nhiều các sai sót loạng choạng do các nhà đầu tư có thể đã tránh được nếu họ nhìn nhận đầu tư trái phiếu với quan điểm của một doanh nhân. Ví dụ, trong năm 1946, các trái phiếu 20 năm AAA miễn thuế được giao dịch tại lợi tức bên dưới 1% một ít. Trên thực tế, người mua trái phiếu này thời gian mua “business” mà kiếm được 1% trên “giá trị sổ sách” và trả 100 cents trên một $ cho kinh doanh ghê tởm.
            Nếu một nhà đầu có đầu óc kinh doanh đủ suy nghĩ trong thời gian đó – và người đó tỉ mỉ thực tế ở mặc cả - anh ấy sẽ cười vào các đề xuất và bỏ đi ngay lập tức. Bởi vì, cùng một lúc, doanh nghiệp với viễn cảnh tương lai tuyệt vời có thể đã có mua tại, hoặc gần tới, giá trị sổ sách khi lợi nhuận 10%, 12%, hoặc 15% sau thuế trên sổ sách. Có lẽ không một doanh nghiệp Mỹ đã thay đổi các bàn tay trong năm 1946 tại giá trị sổ sách rằng người mua tin tưởng không có khả năng kiếm nhiều hơn 1% trên sổ sách. Nhưng các nhà đầu tư với thói quen mua trái phiếu hăm hở thực hiện trách nhiệm kinh tế suốt năm chỉ trên cơ sở đó. Tương tự, thông qua ít vô cùng, các điều kiện thịnh hành cho 2 thập kỷ tiếp theo như các nhà đầu tư trái phiếu hạnh phúc đăng ký cho 20 hoặc 30 năm căn cứ vào kỳ hạn không tương xứng xúc phạm đến các tiêu chuẩn doanh nghiệp. (trong những gì tôi suy nghĩ cho đến nay cuốn sách tốt nhất về đầu tư từng viết – “The intelligent Investor”, tác giả Ben Graham – khu vực cuối  của chương mở đầu bắt đầu với, “Investment is most intelligent when it is most businesslike.”” Khu vực này được gọi là “A final Word”, và nó thích hợp tiêu đề)
            Chúng tôi sẽ nhấn mạnh lần nữa rằng chỗ đó không thể nghi ngờ được nhiều rủi trong trách nhiệm WPSS. Ngoài ra nó là loại rủi ro mà khó khăn tới đánh giá. Là Charlie và tôi tới xử lý với 50 các đánh giá giống nhau lên lifetime, chúng tôi sẽ kỳ vọng phán xét của chúng tôi cung cấp thỏa đáng hợp lý . Nhưng chúng tôi không nhận được may mắn tới thực hiện 50 hoặc thậm chí 5 quyết định như vậy trong một năm riêng lẻ. Ngay cả các kết quả dài hạn có thể hóa ra ổn, trong bất cứ năm nào chúng tôi chạy rủi ro mà chúng tôi sẽ nhìn cực ngu ngọc (Đó là tại sao các câu này nói “Charlie and I”, hoặc “We”)
            Hầu hết những người quản lý có rất ít khuyến khích để thực hiện sự thông minh nhưng với nhiều may mắn trông như một quyết định của anh ngốc. Tỷ lệ lãi/ lỗ cá nhân của họ tất cả quá rõ ràng: nếu quyết định khác thường thực hiện tốt, họ có được một cái vỗ nhẹ vào lưng, nếu nó thực hiện xấu, họ nhận được phiếu màu hồng. (Nhược điểm thông thường là con đường để đi; như một nhóm, lemmings có thể có hình ảnh rất đáng ghét, nhưng không một cá nhân lemming đã bao giờ có nhận sự thúc ép xấu)
            Sự cân bằng của chúng tôi là khác biệt. Với 47% cổ phiếu Berkshire, Charlie và tôi không bao giờ lo lắng về việc bị xa thải, và chúng tôi nhận những phần thưởng như những người sở hữu, không phải là người quản lý. Theo đó chúng tôi cư xử với tiền của Berkshire như chúng tôi sẽ làm với chúng tôi sở hữu. Điều đó thường xuyên dẫn chúng tôi tới hành vi trái quy tắc giữa các đầu tư và quản lý doanh nghiệp nói chung.
            Chúng tôi vẫn giữ nguyên trái nguyên tắc trong phạm vi tới cái chúng tôi tập trung các đầu tư thuộc các công ty bảo hiểm, bao gồm các trái phiếu WPPS đó. Sự tập trung này gây ra ý thức duy nhất khi hoạt động bảo hiểm của chúng tôi được kiểm soát từ một vị thế sức mạnh tài chính khác thường. Về hầu hết tất cả các công ty bảo hiểm khác, một sự so sánh mức độ sự tập trung  (hoặc bất cứ thứ gì gần tới nó) sẽ là không thích hợp hoàn toàn. Vị thế nguồn vốn của họ là không đủ chống lại một sai sót lớn, cho dù làm thế nào thu hút một cơ hội đầu tư có thể xuất hiện khi phân tích dự trên cơ sở khả năng sinh lời.
            Với sức mạnh tài chính chúng tôi có thể sở hữu tảng lớn một vài chứng khoán mà chúng tôi nghĩ rất nhiều và mua tại mức giá hấp dẫn. (Bill Rose đã miêu tả vấn đề trên sự đa dạng:” If you have a harem of forty women, you never get to know any of them very well”). Theo thời gian chính sách của chúng tôi tập trung nên đưa ra các kết quả tốt hơn, thông qua đó sẽ kiếm chế bởi kích thước lớn của chúng tôi. Khi chính sách này đưa ra thực một năm xấu, vì nó phải, ít nhất bạn sẽ biết rằng tiền của chúng tôi được cam kết trên cơ sở giống của bạn.
            Chúng tôi đã thực hiện phần lớn đầu tư WPPSS  tại các mức giá khác nhau và dưới một chút khác biệt thực tế hoàn cảnh so với tồn tại hiện tại. Nếu chúng tôi quyết định thay đổi quan điểm của chúng tôi, chúng tôi sẽ không nói cho các cổ đông cho đến khi rất lâu sự thay đổi đã được thực hiện (chúng tôi có lẽ mua hoặc bạn như bạn đọc điều này). Mua và bán chứng khoán là một kinh doanh cạnh tranh, và thậm chí một số lượng vừa phải được cộng thêm cạnh tranh trên 2 bên có thể đòi hỏi chúng tôi rất nhiều tiền. Mua sắm WPPSS miêu tả nguyên lý này. Từ tháng 10 năm 1983 tới tháng 6 năm 1984, chúng tôi cố gắng mua hầu hết tất cả các trái phiếu mà chúng tôi có thể ở Projects 1, 2, và 3. Tuy nhiên chúng tôi đã mua chưa tới 3% các trái phiếu còn tồn tại. Chúng tôi đã đối mặt bình thản thêm một vài nhà đầu tư có tiền tốt, đã khích động mua tại vì họ đã biết chúng tôi, chúng tôi có thể kết thúc với một số lượng nhỏ hơn thiết yếu trái phiếu, được mua tại giá cao hơn. Về lý do này, chúng tôi sẽ không bình luận về hoạt động trong các chứng khoán – không phải với sức ép, cũng không với các cổ đông, cũng không bất cứ ai khác – trừ khi pháp luật yêu cầu làm.
            Một quan sát cuối cùng liên quan mua sắm WPPS: chúng tôi không thích mua đại đa số các trái phiếu dài hạn dưới hầu hết các điều kiện và đã mua rất ít trong các năm gần đây. Điều này tại vì các trái phiếu như âm thanh của đồng $, và chúng tôi nhìn triển vọng dài hạn dành cho các $ ảm đạm. Chúng tôi tin tưởng lạm phát đáng kể ở phía trước, mặc dùng chúng tôi không có ý tưởng tỷ suất trung bình sẽ bật ra được. Hơn nữa, chúng tôi suy nghĩ chỗ đó là nhỏ, nhưng không quan trọng, may mắn lạm phát rất dễ dàng.
            Xác suất như thế có thể xem như vớ vẫn, cân nhắc tỷ lệ lạm phát đã giảm xuống. Nhưng chúng tôi tin tưởng rằng chính sách tài khoán hiện tại – khắc họa thậm hụt lớn – cả hai cực kỳ  nguy hiểm và khó khăn tới dự trữ. Không có một sự đảo ngược, tỷ lệ lạm phát cao có thể bị trì hõa (có lẽ thời gian dài), nhưng không thể tránh khỏi. Nếu tỷ lệ cao trở thành hiện thực, chúng mang theo chúng khả năng cho xoắn ốc đi lên.
            Trong khi không nhiều lựa chọn giữa trái phiếu và cổ phiếu khi tỷ lệ lạm phát ở mức 5% - 10%, lạm phát phi mã là một câu chuyện khó. Trong tình huống đó, một danh mục đầu tư cổ phiếu đa dạng sẽ hầu như chắc chắn chịu đựng một khoản lỗ to lớn trong giá trị thực tế. Những các trái phiếu đã nổi bật sẽ chịu đựng nhiều hơn. Theo đó, chúng tôi nghĩ một danh mục tất cả trái phiếu mang lại nhỏ bé nhưng không chấp nhận rủi ro “wipe out”, và chúng tôi yêu cầu bất cứ mua sắm ở các trái phiếu dài hạn tới xóa sạch một khó khăn đặc biệt. Duy nhất khi mua sắm trái phiếu xuất hiện quyết định tốt hơn tới các cơ hội kinh doanh khác buộc chúng tôi tham gia vào chúng. Các sự kiến đó có khả năng giữa ít và xa.
Chính sách cổ tức
            Chính sách cổ tức thường được báo cáo tới các cổ đông, nhưng hiếm khi được phân tích. Một công ty sẽ nói những thứ như,”Our goal is to say pay out 40% to 50% of earrnings and to increase dividends at a rate at least equal to the rise in the CPI”. Và đó là nó – không phân tích sẽ được cung cấp như tới tại sao chính sách cụ thể là tốt nhất cho những người sở hữu công ty. Tuy nhiên, phân bổ nguồn vốn là quyết định tới quản lý kinh doanh và đầu tư. Tại vì nó là, chúng tôi tin tưởng những người quản lý và những người sở hữu sẽ suy nghĩ nhiều về các hoàn toàn dưới các thu nhập đó sẽ được giữ lại và dưới các thu nhập nên được phân phối.
            Điểm đầu tiên tới hiểu biết là tất cả các thu nhập không được tạo ra đồng đều. Trong rất nhiều doanh nghiệp đó có tài sản/ lợi nhuận cao (high asset/ profit) tỷ lệ lạm phát là nguyên nhân nhiều hoặc tất cả báo cáo thu nhập trở nên thế phẩm. Phần thế phẩm – hãy gọi các thu nhập đó “restricted” – không thể, nếu doanh nghiệp duy trì vị thế kinh tế của nó, bị phân phối như các cổ tức. Các khoản thu nhập đó được tri trả, doanh nghiệp sẽ mất nền tảng trong 1 hoặc nhiều các tài sản theo sau: các khả năng duy trì doanh thu, vị thế cạnh tranh dài hạn, sức mạnh tài chính. Bất kể làm thế nào thận trọng tỷ lệ chi tiêu, một công ty mà kiên định các thu nhập bị hạn chế được đi đến lãnh quên trừ khi vốn chủ sở hữu không được thiên phú
            Các thu nhập hạn chế ít khi không đáng giá tới những người sở hữu, nhưng họ thường phải bị giảm bớt nghiêm trọng. Trên thực tế,  chúng bị cưỡng bách bởi kinh doanh, cho dù làm thế nào kém tiềm năng kinh tế của nó.
            Các thu nhập hạn chế cần thiết không ảnh hưởng chúng tôi thêm nữa trong thảo luận cổ tức này.Hãy quay lại hướng tới nhiều giá trị đa dạng không hạn chế. Các thu nhập này có thể, với cân bằng tính khả thi, được giữ lại hoặc phân phối. Trong quan điểm chúng tôi, người quản lý nên chọn lựa bất cứ tiến trình tạo ý thức to lớn cho những người sở hữu doanh nghiệp.
            Nguyên lý này không được chấp nhận phổ biến. Đối với con số các lý do người quản lý thích giữ lại thu nhập không hạn chế, sẵn sàng phân phối các thu nhập từ các cổ đông – tới mở rộng đế chế quản trị qua nguyên tắc những người quản lý, tới hoạt động từ vị thể thoải mãi tài chính kỳ vọng...Nhưng chúng tôi tin tưởng có duy nhất một lý do giá trị cho sự giữ lại. Các thu nhập không hạn chế sẽ được duy lại chỉ duy khi có một viễn cảnh hợp lý – được quay lại tốt nhất bởi bằng lịch sử hoặc, khi mỗi 1 $ được giữ lại, tối thiểu 1$ giá trị thị trường được tạo ra cho những người sở hữu. Điều này sẽ xảy ra duy nhất nếu nguồn vốn được giữ lại tạo ra các thu nhập lớn lên  bằng, hoặc bên trên, thông thường có sẵn tới các nhà đầu tư.
            Về hình dung, hãy giả định rằng nhà đầu tư sở hữu trái phiếu rủi ro liên kim 10% với một nét đặc trưng rất khác thường. Mỗi năm nhà đầu tư có thể lựa chọn giữa hoặc năm 10% coupon tiền mặt, hoặc tái đầu tư coupon trong nhiều hơn trái phiếu 10% với thời kỳ tương đồng.; a perpetual life và coupons mang đến lựa chọn giống nhau tiền mặt hoặc tái đầu tư. Nếu, trong bất cứ năm nào, lãi suất dài hạn thuận lợi, trái phiếu phi rủi ro là 5%, nếu sẽ là ngu xuẩn cho nhà đầu tư năm coupon của anh ý trong tiền mặt từ khi 10% các trái phiếu anh ý có thể thay vào đó chọn lựa sẽ giá trị đáng kể hơn 100 cents vào 1$. Dưới các hoàn cảnh đó, nhà đầu tư muốn có được tiền mặt trên tay nên nắm coupon anh ý cộng thêm các trái phiếu và khi đó ngay lập tức bán chúng. Bởi làm thế, anh sẽ nhận nhiều tiền mặt hơn nếu anh lắm coupon trực tiếp tiền mặt. Giả định tất cả trái hiếu được nắm giữ vừa phải, không ai chọn lựa tiền trong kỷ nguyên lãi suất 5%, không thậm chí trái chủ cần tiền mặt cho mục đích cuộc sống.
            Nếu, tuy vậy, lãi suất là 15%, không nhà đầu tư sáng suốt sẽ mong muốn tiền của mình được đầu tư cho mình tại 10%. Thay vào đó, nhà đầu tư sẽ chọn lựa năm coupon bằng trong tiền mặt, thậm chí nếu tiền mặt cá nhân anh ý cần thiết là không có. Tiến trình ngược lãi – tái đầu tư coupon – sẽ gửi đến nhà đầu tư thêm các trái phiếu với giá trị thị trường ít hơn tiền mặt anh ấy có thể được lựa chọn. Nếu anh ấy mong muốn 10% trái phiếu, anh ấy có thể đơn giảm cầm tiền mặt được nhận và mua chúng trong thị trường, ở đó chúng sẽ có sẵn tại một mức chiết khấu lớn.
            Một phân tích giống nhau đó tạo ra bởi giả thuyết trái chủ của chúng tôi là thích hợp những người sở hữu trong suy nghĩ về hay không thu nhập không hạn chế của công ty sẽ được sẽ lại hoặc chi trả. Dĩ nhiên, các phân tích nhiều hơn sự khác biết và tùy thuộc vào sai sót tại vì tỷ lệ kiếm được dựa trên các thu nhập tái đầu tư là không giao kèo, như trong trường hợp trái phiếu chúng tôi, như xa hơn một con số dao động. Tuy vậy, đã có một ước chừng thấm nhuần được thực hiện, yên tâm các phân tích đơn giản: bạn nên hy vọng các thu nhập của bạn cho tái đầu tư nếu chúng ta có thể được trông đợi kiếm được lợi nhuận cao; và bạn nên hy vọng họ trả tới bạn nếu lợi nhuận thấp có khả năng kết quả tái đầu tư.
            Nhiều quản lý doanh nghiệp lý do rất nhiều dọc theo đó trong xác định có hay không các công ty con nên phân phối lợi nhuận tới công ty mẹ của chúng. Tại mức độ đó, những người quản lý không có rắc rối suy nghĩ như những người sở hữu thông minh. Nhưng các quyết định chi trả tại mức độ công ty mẹ thường là câu chuyện khó khăn. Những người quản lý ở đây thường xuyên có rắc rối đặt bản thân họ trong giày của cổ đông sở hữu họ.
            Với phương pháp schizoid này, CEO của một công ty đa phân chỉ dẫn Subsidiary A, sở hữu các thu nhập trên tiền lãi vốn có thể kỳ vọng trung bình 5%, tới phân phối tất cả thu thập sẵn có để họ có thể đầu tư trong Subsidiary B, sở hữu các thu nhập trên tiền lãi nguồn vốn được kỳ vọng lên tới 15%. Lời tuyên thệ của CEO trường kinh doanh sẽ cho phép không ít hành vi kém hơn. Nhưng nếu thành tích dài hạn anh ta sở hữu với tiền lãi nguồn vốn là 5% - và tỷ suất thị trường là 10% - anh ấy có khả năng lợi dụng một chính sách cổ tức dựa vào các cổ đông của công ty mẹ rằng đơn thuần đi theo lịch sử hoặc mô hình thanh toán rộng rãi ngàng. Hơn nữa, anh ta sẽ kỳ vọng những quản lý công ty con gửi tới anh ta một tài khoản đầy đủ như tới tại sao nó tạo ý thức cho các lợi nhuận tới tái giữ lại trong các hoạt động của họ thay vi phân phối tới công ty mẹ. Nhưng hiếm khi sẽ anh ta cung cấp người sở hữu anh ta với các phân tích tương tự gắn liền toàn bộ công ty.
            Trong xét đoán có hay không những người quản lý nên giữ lại lợi nhuận, các cổ đông không nên đơn giản so sánh tổng các lợi nhuận sinh lời trong các năm gần đây tới tổng sinh lời nguồn vốn tại vì mối quan hệ đó có thể bị bóp méo bởi những gì đang diễn ra trong hoạt động cốt lõi. Trong một giai đoạn lạm phát, các công ty với đặc điểm kinh doanh cốt lõi do tính kinh tế khác thường có thể dùng số lượng nhỏ tiền lãi nguồn vốn trong đó kinh doanh tại tỷ suất sinh lời rất cao. Nhưng, trừ khi họ đang trải nghiệm rất lớn đơn vị tăng trưởng, kinh doanh nổi bật bởi định rõ tạo ra số lượng lớn dư thừa tiền mặt. Nếu một công ty hạ xuống đa số tiền này trong hoạt động kinh doanh khác mà kiếm được lợi nhuận thấp, lợi nhuận toàn bộ của công ty trên nguồn vốn giữ lại có thể tuy vậy xuất hiện tuyệt vời tại vì lợi nhuận đặc biệt được thu do phần lãi lợi nhuận được đầu tư trong hoạt động cốt lõi. Hoàn cảnh tương tự với sự kiện golf Pro-Am: thậm chí nếu tất cả vận động viên nghiệp dư là chàng ngốc vô dụng, điểm số nhát bóng của đội sẽ là kha khá tại vì các kỹ năng trội hơn của vận động viên chuyên nghiệp.
            Nhiều doanh nghiệp mà kiên định cho thấy lợi nhuận tốt cả 2 dựa trên vốn và dựa trên tất cả tiền lãi nguồn vốn có, thực vậy, tận dụng một vị thế lớn ở các lợi nhuận giữ lại của họ vào không hấp dẫn kinh tế, thậm chí thảm họa, khởi điểm. Kinh doanh cốt lõi tuyệt duyệt của họ, tuy vậy, sở hữu thu nhập tăng trưởng năm sau năm, ngụy trang liên tục thất bại trong phân bổ nguồn vốn ở nơi nào khác (thường thường liên quan giá cao hơn sáp nhập doanh nghiệp mà vốn đã có tính kinh tế tầm thường). Những quản lý báo cáo định kỳ sai lầm trên các bài học họ đã học được từ sự thất vọng gần nhất. Họ khi họ luôn luôn tìm thấy các bài học tương lai.
            Trong trường hợp đó, các cổ đông sẽ tốt hơn hết nếu các thu nhập được giữ lại duy nhất mở rộng lợi nhuận kinh doanh cao hơn, với bảng cân đối trả cổ tức, hoặc sử dụng mua lại cổ phiếu. Những người quản lý doanh nghiệp lợi nhuận cao người kiên định sử dụng nhiều tiền mặt quăng đi do kinh doanh đó trong dự án mạo hiểm lợi nhuận thấp nên được nắm giữ tài khoản cho các quyết định phân phối, bất chấp sinh lời thế nào toàn bộ công ty.
            Không có gì trong thảo luận điều này được ý định tới biện luận cổ tức mà bật lên khoảng từ quý tới quý với mỗi gợn sóng trong thu nhập hoặc trong các cơ hội đầu tư. Các cổ đông của các công ty đại chúng có thể hiểu được thích hơn rằng các cổ tức được nhất quán và có thể đoán được. Các thanh toán, theo đó, nên phản ánh các kỳ vọng dài hạn cho cả thu nhập và lợi nhuận từ tiền lãi vốn. Vì viễn cảnh doanh nghiệp dài hạn thay đổi không thường xuyên, các mô hình cổ tức nên thay đổi không thường xuyên hơn. Nhưng theo thời gian các thu nhập có thể phân phối đã có chiếm giữ do những người quản lý nên kiếm tiền nuôi sống họ. Nếu các thu nhập đã được giữ lại không khôn ngoan, nó khả năng rằng những người quản lý đó, cũng, đã được giữ lại không khôn ngoan.
            Bây giờ hãy chuyển đến Berkshire Hathaway và xem xét thế nào những nguyên lý cổ tức đó áp dụng. Lịch sử, Berkshire đã kiếm được tốt trển lãi suất thị trường vào các thu nhập giữ lại, theo đó tạo ra trên 1$ giá trị thị trường cho mỗi 1$ được giữ lại. Dưới các hoàn cảnh đó, bất cứ phân phối sẽ có trái với lợi nhuận tài chính của các cổ đông, lớn hoặc nhỏ.
            Trên thực tế, sự phân phối đáng kể đầu các năm có thể đã tệ hại, như 1 nhìn nhận vị trí bắt đầu của chúng tôi sẽ diễn tả tới bạn. Charlie và Tôi lúc đó đã kiểm soát và quản lý 3 công ty, Berkshire Hathaway Inc., Diversified Reailing Company Inc., và Blue Chip Stamps (tất cả bây giờ được hợp nhất vào trong hoạt động hiện tại của chúng tôi). Blue Chip trả chỉ một lượng nhỏ cổ tức, Berkshire và DRC không trả gì. Nếu, thay vì, các công ty đã tri trả tất cả các lợi nhuận của họ, chúng ta hầu như chắc chắn sẽ không có lợi nhuận tất cả bây giờ - và có lẽ nguồn vốn cũng không. 3 công ty mỗi cái bắt đầu tạo tiền của chúng từ kinh doanh đơn lẻ: (1) dệt may tại Berkshire; (2) cửa hàng bách hóa tại Diversified; và (3) buôn bán tem tại Blue Chip. Nền tảng kinh doanh đấy (chọn lựa cẩn thận, nó nên được lưu ý, bởi chủ tịch và phó chủ tịch của bạn) có, theo thứ tự, (1) được sống sót nhưng kiếm được hầu như không có gì, (2) quắt lại trong quy mô trong khi xuất hiện thua lỗ, và (3) co lại trong doanh thu tới khoảng 5% của nó, kích thước tại thời điểm gia nhập của chúng tôi. Duy nhất bởi các nguồn lực có sẵn tận tâm có hoạt động tốt hơn là chúng tôi có khả năng chiến thắng điểm bắt đầu đó. Rõ ràng, đa dạng hóa đã phục vụ tốt chúng tôi.
            Chúng tôi tiếp tục đa dạng hóa trong khi vẫn hỗ trợ tăng trưởng hoạt động hiện tại thông qua, như chúng tôi đã chỉ ra, lợi nhuận của chúng tôi từ các nỗ lực đó sẽ chắc chắn dưới lợi nhuận lịch sử của chúng tôi. Nhưng viễn cảnh lợi nhuận dài hạn bên trên tỷ suất yêu cầu tới đưa ra 1$ của thị trường trên mỗi 1$ được giữ lại, chúng tôi sẽ tiếp tục giữ lại tất cả lợi nhuận. Nên đánh giá của chúng tôi lợi nhuận tương lai giảm xuống dưới điểm đó, chúng tôi sẽ phân bổ tất cả lợi nhuận không cần thiết rằng chúng tôi tin tưởng không thể sử dụng hiệu quả. Trong đưa ra phán xét đó, chúng tôi sẽ xem xét cả lịch sử và viễn cảnh của chúng tôi. Tại vì các kết quả năm qua năm vốn đã không kiên định, chúng tôi tin tưởng trung bình 5 năm trôi qua là thích hợp tới phán xét các thành tích lịch sử.
            Kế hoạch hiện tại của chúng tôi là sử dụng các thu nhập giữ lại tới tiếp tục xây dựng nguồn vốn các công ty bảo hiểm. Hầu hết các đối thủ cạnh tranh trong điều kiện tài chính yếu và miễn cưởng mở rộng căn bản. Tuy nhiên tiền lãi phí bảo hiểm lớn cho ngàng là sắp xảy ra, số lượng có lẻ vượt trên $15 tỷ  trong năm 1985 so với  ít hơn $5 tỷ năm năm 1983. Các hoàn cảnh đó có thể đưa ra số lượng lớn kinh doanh sinh lời tới chúng tôi. Dĩ nhiên, các kết quả này không có điều gì chắc chắn, nhưng viễn cảnh cho nó là tốt hơn nhiều so với chúng đã có mấy năm.
Miscellaneous
            Đây là nơi ở đó mỗi năm tôi chạy quảng cáo nhỏ“business wanted” của tôi. Năm 1984 John Loomis, một người chúng tôi đặc biệt am hiểu và các cổ đông chú ý, đã đưa ra với một công ty rằng phù hợp tất cả bài kiểm tra của chúng tôi. Chúng tôi ngay lập tức theo đuổi ý tưởng đó, và chỉ một phức tạp may mắn ngăn chặn một thỏa thuận. Từ khi quảng cáo của chúng tôi đang được lôi kéo, chúng tôi sẽ nhắc lại nó trong chính xác mẫu năm ngoái:  
            Chúng tôi thích
(1) Mua sắm lớn (tối thiểu lợi nhuận $5m sau thuế)
(2) Chứng minh được năng lực lợi nhuận kiên định (các dự án tương lai là ít quan tâm tới chúng tôi, cũng không phải tình huống “turn-around”)
(3) Donh nghiệp đạt ROE tốt trong khi ít hoặc không có nợ
(4) Quản trị giữ nguyên (chúng tôi không thể cung cấp nó)
(5) Kinh doanh đơn giản (nếu có nhiều công nghệ, chúng tôi không thể hiểu biết nó)
(6) Giá cả đề xuất (chúng tôi không muốn hao phí thời gian của chúng tôi hoặc của người bán bởi nói chuyện, thậm chí sơ bộ về một giao dịch khi giá cả không biết)
Chúng tôi sẽ không tham gia trong unfrinedly takeovers. Chúng tôi có thể cam kết bí mất và trả lời rất nhanh chóng – thông thường trong khoảng 5 phút – như là có hay không chúng tôi quan tâm. Chúng tôi ưa thích mua bằng tiền mặt, nhưng sẽ quan tâm phát hành cổ phiếu khi chúng tôi nhận nhiều trong giá trị doanh nghiệp nội tại như chúng tôi gửi. Chúng tôi mời những người bán tiềm năng kiểm tra chúng tôi bởi liên lạc những người chúng tôi đã thực hiện kinh doanh trong quá khứ. Đối với quyền kinh doanh – và quyền con người – chúng tôi có thể cung cấp ngôi nhà tốt
                Một ghi chép 97,2% tất cả các cổ đông đủ tư cách đã tham gia trong chương trình phân bổ shareholder-designated Berkshire năm 1984. Tổng công đóng góp được tạo ra thông qua chương trình này này là $3179000 và 1519 tổ chức từ thiện đã nhận. Tài liệu ủy nhiệm của chúng tôi cho gặp mặt thường niên sẽ cho phép bạn quăng một tư vấn bỏ phiếu rõ ràng nhìn nhận của bạn về chương trình này – có hay không bạn nghĩ chúng ta nên tiếp tục nó và, nếu vậy, tại mức bao nhiêu mỗi cổ phiếu.
                Chúng tôi đề xuất các cổ đông mới đọc miệu tả chương trình đóng góp shareholder-designated của chúng tôi rằng xuất hiện trang 60 và 61. Nếu bạn mong ước tham dự các chương trình trong tương lai, chúng tôi đề xuất mạnh mẽ rằng bạn ngay lập tức chắc chắn rằng cổ phiếu của bạn được đăng ký trong tên chủ sở hữu thực sự, không phải “street” hoặc tên danh nghĩa. Các cổ phiếu không được đăng ký quá ngày 30/12/1985  sẽ không đủ tư cách cho tham gia chương trình năm 1985.
                Gặp mặt thường niên sẽ vào ngày 21/5/1985 tại Omaha, và tôi hi vọng rằng bạn tham gia. Nhiều buổi gặp mặt phung phí thời gian, cả cho cổ đông và cho quản lý. Thỉnh thoảng đó là đúng tại vì quản lý bất đắc dĩ mở tới các vấn đề kinh doanh căn bản.Thường xuyên hơn một buổi họp không mang lại hiệu quả là sự lỗi lầm của những người tham gia cổ đông người được liên quan về tính trọng yếu sở hữu của họ trên sân khấu so với họ về các công việc công ty. Những gì nên là một diễn đàn thảo luận kinh doanh trở thành diễn đàn cho sân khấu, vấn đề spleen – venting và ủng hộ tích cực. Dưới các hoàn cảnh đó, chất lượng của gặp mặt thường xấu đi từ năm này qua năm khác như trò hề của những người quan tâm đến bản thân nản lòng tham dự có mặt những người quan tâm trong doanh nghiệp
                Buổi gặp Berkshire là câu chuyện khác. Con số các cổ đông tham dự tăng trưởng một ít mỗi năm và chúng tôi vẫn chưa trải nghiệm một câu hỏi ngớ ngấn hoặc bình luận cái tôi đầy cảm hứng. Thay vào đó, chúng tôi có đa dạng rộng khắc thông qua các câu hỏi về doanh nghiệp. Tại vì buổi gặp thường niên là thời gian và địa điểm đó, Charlie và tôi hạnh phúc trả lời tất cả họ, không vấn đề thời gian mất bao lâu. (chúng tôi không thể, tuy vậy trả lời các câu hỏi viết thư hoặc phone tại các thời gian khác nhau của năm, một con người tại một thời gian báo cáo là sử dụng nghèo nàn thời gian quản lý trong một công ty với 3000 cổ đông). Các hoạt động trong chứng khoán sẽ nó minh họa quan trọng
                Chúng tôi luôn luôn khoe khoang môt ít trên các trang đó về chất lượng khuân khổ cổ đông của chúng tôi. Đến buổi gặp thường niên và bạn sẽ nhìn thấy tại sao. Out-of-towers lịch trình dừng lại Nebraska Funrniture Mart. Nếu bạn thực hiện nhiều mua sắm, bạn sẽ tiết kiệm nhiều hơn so với đủ tiền trả cho chuyến đi của bạn, bạn sẽ thích thú trải nhiệm này.
Warren E Buffet
Chairman of the bord
February 25, 1985

           






           


           


[1] tăng thêm trong giá cả của nhiều thứ trên cơ sở khác biệt giữa chi phí sản xuất nó và giá cả nó được bán
[2] 1 pound = 0,453 grams

No comments:

Post a Comment