Chairman’s Letter – 1986
BERKSHIRE
HATHAWAY INC
To the shareholders of Berkshire
Hathayway INC
Giá trị dòng chúng tôi đạt được
trong năm 1986 là $492,5m, hoặc 26,1%. Trên 22 năm qua (đó là; từ khi
quản lý hiện tại nắm quyền) giá trị sổ sách mỗi cổ phiếu đã tăng
từ $19,46 tới $2073,06, hoặc lãi kép hằng năm 23,3%. Cả tử sổ và mẫu
số là quan trọng trong tính toán giá trị sổ sách: trong thời gian 22
năm giá trị tài sản ròng doanh nghiệp đã tăng 10.600% trong khi số
lượng cổ phiếu đã tăng ít hơn 1%
Trong năm
ngoái tôi đã ghi chú rằng giá trị sổ sách tại hầu hết công ty rất
khác nhau từ giá trị doanh nghiệp nội tại – con số đó thực ra gồm
cả những người sở hữu. Trong trường hợp của chúng tôi, tuy vậy, giá
trị sổ sách đã đáp ứng cho nhiều hơn 1 thập kỷ như 1 sự chính xác
nếu một chút bảo thủ ủy nhiệm cho giá trị doanh nghiệp. Điều đó
là, giá trị doanh nghiệp của chúng tôi lớn hơn vừa phải giá trị sổ
sách chúng tôi, với tỷ lệ giữa hai là khá ổn định.
Tin tức
tốt là trong năm 1986 phần trăm đạt được trong giá trị doanh nghiệp có
lẽ lớn hơn giá trị sổ sách lần nữa. Tôi nói “probably” tại vì giá
trị doanh nghiệp là con số mềm: trong trường hợp chúng tôi, two equally
well-informed observers might make judgments more than 10% apart.
Một sự
đo lường lớn sự tiến bộ trong giá trị doanh nghiệp liên quan tới giá
trị sổ sách phản ánh hiệu quả nổi bật của người quản lý chính
tại hoạt động kinh doanh chủ yếu. Những người quản lý đó – Blumkins,
Mike Goldberg, the Heldmans, Chuck Huggins, Stan Lipsey, và Ralph Schey –
trong năm qua cải thiện lợi nhuận doanh nghiệp của họ đáng kể trong
khi, ngoại trừ bảo hiểm, sử dụng ít vốn thêm vào. Sự thực hiện này
xây dựng giá trị kinh tế, hoặc “Goodwill”, điều đó không diễn tả trong
con số giá trị tài sản ròng trên bảng cân đối kế toán, cũng không
giá trị số sách mỗi cổ phiếu. Trong năm 1986 lợi nhuận không ghi nhận
này là đáng kể.
Rất
nhiều tin tức tốt. Tin tức xấu là hiệu quả của tôi không bằng những
đấy của tôi. Trong khi họ đã làm một công việc tuyệt vời trong điều
hành doanh nghiệp, tôi đã không thể bố trí khéo léo nhiều nguồn vốn
họ đã tạo ra.
Charlie
Munger, phó chủ tịch, và tôi thực sự làm 2 công việc duy nhất. Một
là thu hút và giữ những quản lý nổi bật tới điều hành hoạt động
khác nhau của chúng tôi. Điều này không là tất cả khó khăn. Thông
thường những quản lý đến với công ty chúng tôi mua, đã có sự minh
chứng tài năng của họ thông qua sự nghiệp trải dải rộng lớn các
hoàn cảnh doanh nghiệp. Họ là những ngôi sao quản lý dài trước khi
chúng tôi biết họ, và sự đóng góp chính của chúng tôi đã được không
nhận được trong cách của họ. Cách tiếp cận của tôi dường như cơ bản:
nếu công việc của tôi là quản lý một golf team - và nếu jack Nicklaus hoặc Arnold Palmer
sẵn sàng chơi cho tôi – không phải nhận nhiều hướng dẫn từ tôi về làm
thế nào để bỏi.
Nhiều
quản lý chính của chúng tôi là tài sản độc lập (we hope they all
become so), nhưng điều đó không gây ra mối đe dọa cho họ tiếp tục quan
tâm: họ làm việc tại vì họ yêu thích những gì họ làm và sự say mê
làm rùng mình hiệu quả nổi bật. Họ luôn luôn nghĩ như những người
sở hữu (lời khen ngợi cao nhất chúng tôi có thể trả cho 1 quản l) và
tìm kiếm tất các khía cạnh say mê doanh nghiệp của họ.
Charlie
và tôi biết rằng người chơi tốt sẽ tạo hầu hết bất cứ quản lý có
vẻ tốt. Chúng tôi tán thành triết lý của nhà sáng lập thiên tài Ogilvy
& Mather, David Ogilvy: “If each of us hires people who are smaller than we
are, we shall become a company of dwarfs. But, if each of us hires people who
are bigger than we are, we shall become a company of giants.”
Bởi sản
phẩm của phong cách quản lý chúng tôi là khả năng nó gửi tới chúng
tôi sự đơn giản mở rộng hoạt động của Berkshires. Chúng tôi đã đọc
các luận văn quản lý đặc biệt chính xác làm thế nào mọi người nên
báo cáo tới bất cứ ai ban quản trị, nhưng họ ít tạo ý nghĩa tới chúng tôi. Khi bạn có
khả năng quản lý ở cá tính cao điều hành doanh nghiệp về cái họ say
đắm, bạn có thể có 1 tá hoặc nhiều hơn báo cáo tới bạn và thậm
chí vẫn có thời gian cho 1 giấc ngủ trưa. Ngược lại, nếu bạn thậm
chí có 1 người báo cáo tới bạn những người dối trá, vớ vẫn hoặc
thờ ơ, bạn sẽ tìm kiếm chính bản thân bạn với nhiều hơn bạn có thể
vận dụng. Charlie và tôi có thể làm việc với gấp đôi số lượng quản
lý chúng tôi có bây giờ, miễn là họ có phẩm chất quý hiếm ở mỗi
con người có mặt.
Chúng
tôi ý muốn tiếp tục thục hiện công việc của mình duy nhất với những
người chúng tôi thích và ngưỡng mộ. Chính sách này không chỉ duy
nhất tối đa hóa sự may mắn của chúng tôi cho các kết quả tốt, ngoài
ra đảm bảo chúng tôi một thời gian tốt lạ thường. Nói một cách
khác, công việc với những người là nguyên nhân dạ dày của bạn rối
loạn dường như kết hơn vì tiền – có lẻ là một ý tưởng tồi dưới
bất cứ hoàn cảnh, nhưng hoàn toàn ngu xuẩn nếu bán đã giàu.
Công
việc thứ 2 Charlie và tôi phải đảm nhiệm là phân bổ nguồn vốn, cái
đó tại Berkshire là quan trọng đáng kể hơn nhiều so với hầu hết các
công ty. 3 nhân tố làm như vậy: chúng tôi tạo ra nhiều tiền hơn so với
mức trung bình; chúng tôi tái đầu tư tất cả chúng tôi kiếm được; và
chúng tôi may mắn tới có các hoạt động rằng, phần lớn, đòi hỏi ít
vốn gia tăng để duy trì cạnh tranh và tăng trưởng. Rõ ràng, các kết
quả may mắn của một doanh nghiệp kiếm được 23% hằng năm và giữ lại
tất cả nhiều sự ảnh hưởng do phân bổ nguồn vốn ngày nay so với kết
quả của một doanh nghiệp kiếm được 10% và chia 1 nửa số đó tới các
cổ đông. Nếu lợi nhuận giữ lại của chúng tôi – và đó là những công ty đang đầu tư lớn của
chúng tôi, GEICO và Capital Cities/ABC, Inc. – được sử dụng một cách
không hiệu quả, tính kinh tế của Berkshire sẽ giảm giá trị rất nhanh chóng.
Trong một công ty thêm duy nhất, 5% giá trị ròng hằng năm, capital-allocation
decisions, mặc dù vẫn còn quan trọng, sẽ thay đổi tính kinh tế của
công ty xa chậm hơn.
Phân bổ
nguồn vốn tại Berkshire là một công việc khắc nghiệt năm 1986. Chúng
tôi đã mua 1 doanh nghiệp – The Fechheimer Bros Company, cái chúng tôi sẽ
thảo luận phần sau. Fechhimer là một công ty với tính kinh tế tuyệt
vời, điều hành bởi những người
chúng tôi thích thú được gắn liền với. Nhưng nó tương đối nhỏ, sử
dụng chỉ 2% giá trị ròng của Berkshire.
Trong
lúc đó, chúng tôi không có các ý tưởng mới trong lĩnh vực thị
trường vốn, 1 khu vực trong cái trước kia, duy nhất một vài năm trước
đây, chúng tôi có thể dễ dàng số tiền lớn trong doanh nghiệp nổi bật
tại mức giá phù hợp. Vì vậy phân bổ nguồn vốn chính di chuyển trong
năm 1986 là tri trả nợ và dự trữ nguồn vốn. Cũng không phải số phận
tồi tệ hơn cái chết, nhưng chúng không truyền cảm hứng tới chúng tôi
tới làm nhào lộn người cả hai. Nếu tôi và Charlie đã vẻ các khoảng
trống cho vài năm trong cố gắng phân bổ nguồn vốn, tỷ lệ tăng trưởng
của Berkshire chậm đáng kể.
Chúng
tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm các doanh nghiệp hoạt động phù hợp bài
kiểm tra của chúng tôi, với may mắn, sẽ mua lại doanh nghiệp như vậy
mỗi sự kết hợp nhiều năm. Nhưng mua lại sẽ phải đủ lớn nếu nó giúp
hiệu quả thiết yếu của chúng tôi. Dưới các điều kiện thị trường cổ
phiếu hiện nay, chúng tôi ít hi vọng tìm kiếm cổ phiếu để mua cho
các công ty bảo hiểm của chúng tôi. Thị trường sẽ thay đổi đáng kể –
bạn có thể đúng điều đó và nhiều ngày chúng tôi sẽ lần nữa có cú
đánh bất ngờ. Tuy vậy, chúng tôi không có ý tưởng mờ nhạt khi điều
đó có thể xảy ra.
Nó có
thể không nói quá thông thường (mặc dù tôi đúng bạn cảm thấy tôi đã
cố gắn) rằng, thậm chí với các
điều kiện triển vọng, lợi nhuận của chúng tôi chắc chắn giảm đáng
kể tại vì quy mô mở rộng của chúng tôi. Chúng tôi nói tới bạn rằng
chúng tôi hi vọng lợi nhuận bình quân 15% trên vốn và chúng tôi duy
trì hi vọng đó, mặc dù nhiều thay đổi tiêu cực luật thuế được miêu
tả trong phần sau của bào cáo này. Chúng tôi theo đuổi tỷ suất sinh
lời này, giá trị tài sản ròng phải tăng thêm $7,2b trong 10 năm tiếp
theo. Lần nữa độ rộng lớn sẽ có khả năng duy nhất nếu, trước khi
quá lâu, chúng tôi đưa ra một vài ý tưởng lớn (và tốt). Charlie và
tôi không thể bảo đảm kết quả, nhưng tôi làm cam kết rằng chúng tôi
sẽ giữ nỗ lực của chúng tôi tập trung vào mục tiêu.
Sources of
Reported Earnings
Bảng
trang tiếp theo diễn tả các nguồn chính của lợi nhuận được báo cáo
của Berkshire. Bảng này khác biệt trong 1 vài cách thức từ bảng miêu
tả năm ngoái. Chúng tôi đã có thêm 4 dòng doanh nghiệp tại vì mua lại
Scott Fetzer và Fechhimer. Trong trường hợp Scott Fetzer, 2 đơn vị chính
thu được là World Book và Kirby và mỗi cái được miêu tả riêng biệt. 14
công ty con khác của Scott Fetzer được tổng hợp trong Scott Fetzer –
Diversified Manufacturing. SF Finnancial Group, một công ty tín dụng nắm
giữ các khoản phải thu World Book và Kirby, được bao gồm trong “other”.
Năm nay, tại vì Berkshire quá lớn, chúng tôi cũng đã loại trừ riêng
biệt tường thuật cho một vài doanh nghiệp nhỏ hơn của chúng tôi.
Trong
bảng, amortization of Goodwill không tính vào đối với các doanh nghiệp
cụ thể nhưng, cho các lý do phác thảo trong phụ lục lá thư của tôi
trong báo cáo thường niên 1983, được tổng hợp như mục riêng biệt. Mua
lại cả 2 Scott Fetzer và Fechheimer đã tạo ra tài khoản Goodwill, đây
là tại sao amortization tính vào Goodwill tăng thêm trong năm 1986.
Thêm
nữa, mua lại Scott Fetzer yêu cầu các điều chỉnh kế toán giá mua lớn
khác, được quy định bởi generally accepted accounting principles (GAAP).
Con số GAAP, dĩ nhiên, được sử dụng trong báo cáo tài chính hợp
nhất. Nhưng, trong nhìn nhận của chúng tôi, con số GAAP là không nhất
thiết hữu ích nhất cho các nhà đầu tư và quản lý. Theo đó, các con
số được diễn tả cho các đơn vị kinh doanh cụ thể kiếm được trước khi
các điều chỉnh purchase-price được mang vào trong tài khoản. Trên thực
tế, đây là những thu nhập theo báo cáo bởi doanh nghiệp nếu chúng tôi
đã không mua chúng.
1 tranh
luận các lý do chúng tôi cho ưa thích tạo thành điều này ở trình
bày trong phụ lục bức thư này. Phụ lục này sẽ không bao giờ thay thế
cho một tiểu thuyết đắm say và chắc chắn không yêu cầu đọc. Tuy vậy,
tôi biết giữ 6000 cổ đông của chúng tôi lại có những người rùng mình
bởi bài tiểu luận của chúng tôi trên accounting – và tôi hi vọng rằng
cả 2 thích thú Appendix.
(000s omitted)
---------------------------------------------
|
|
Pre-Tax Earnings
|
Berkshire’s Share of Net Earnings (after taxes and
minority interests)
|
||
|
|
---------------------------------------
|
---------------------------------------------
|
||
|
|
1986
|
1985
|
1986
|
1985
|
|
Operating Earnings:
|
|
|
|
|
|
Insurance
Group
|
|
|
|
|
|
Underwringting
|
$(55,844)
|
$(44,230)
|
$(29,864)
|
$(23,569)
|
|
Net Investment Income
|
107,143
|
95,217
|
96,440
|
79,716
|
|
Buffalo News
|
34,736
|
29,921
|
16,918
|
14,580
|
|
Fechheimer (Acquired 6/3/86)
|
8,400
|
---
|
3,792
|
---
|
|
Kirby
|
20,218
|
---
|
10,508
|
---
|
|
Nebraska Furniture Mart
|
17,685
|
12,686
|
7,192
|
5,181
|
|
Scott Fetzer-Diversified Mfg
|
25,358
|
---
|
13,354
|
---
|
|
See’s Candies
|
30,347
|
28,989
|
15,176
|
14,558
|
|
Wesco-other than insurance
|
5,542
|
16,018
|
5,550
|
9,684
|
|
World Book
|
21,978
|
---
|
11,670
|
---
|
|
Amortization of Goodwill
|
(2,555)
|
(1,475)
|
(2,555)
|
(1,475)
|
|
Other purchase-price accounting chargers
|
(10,033)
|
---
|
(11,031)
|
----
|
|
Interest on debt and Pre-Payment penalty
|
(23,891)
|
(14,415)
|
(12,213)
|
(7,288)
|
|
Shareholder-Designated Contributions
|
(3,997)
|
(4,006)
|
(2,158)
|
(2,164)
|
|
Other
|
20,770
---------
|
6,744
--------
|
8,654
--------
|
3,725
--------
|
|
Operating Earnings
|
195,857
|
125,449
|
131,464
|
92,948
|
|
Special General Foods Distribution
|
---
|
4,127
|
---
|
3,779
|
|
Special Washington Post Distribution
|
---
|
14,877
|
---
|
13,851
|
|
Sales of securities
|
216,242
-----------
|
468,903
----------
|
150,897
----------
|
325,237
----------
|
|
Total Earnings-all entities
|
$412,099
=======
|
$613,356
=======
|
$282,361
=======
|
$435,815
========
|
Như bạn có thể nhìn, lợi nhuận
hoạt động được cải thiện đáng kể trong năm 1986. Nhiều sự cải thiện
này đã đến từ hoạt động bảo hiểm, cái sở hữu kết quả tôi sẽ phân
tích trong phần sau. Fechheimer cũng sẽ được thảo luận riêng biệt.
Hiệu quảcác doanh nghiệp khác như sau.
·
Các kết quả hoạt động tại tờ báo The Buffalo tiếp tục phản
ánh một sự thật công việc quản lý suất sắc bới Stan Lipsey. Trong năm thứ 3
chèo lái, giờ làm việc giảm đáng kể và các chi phí khác gần như được kiểm soát.
Do đó, lợi nhuận gộp được cải thiện thiết yếu trong năm 1986, mặc dù tỷ lệ quảng
cáo của chúng tôi tăng thêm thấp hơn so với hầu hết các tờ báo lớn.
Các nỗ lực kiểm soát chi phí không theo
hướng suy giảm trách nhiệm đưa tin tức. Chúng tôi tiếp tục cung cấp 50% “new
hole” (the portion of the total space in the paper devoted to news), một phần
trăm cao hơn, chúng tôi tin tưởng, so với bất cứ sự hiện diện tờ báo chủ đạo
trong đất nước này ở kích cỡ và quy mô chúng tôi.
New hole trung bình ở tại tờ báo có thể
so sánh được tới News là khoảng 40%. Sự khác biệt giữa 40% và 50% là nhiều quan trọng
hơn so với có thể cái nhìn đầu tiên: một tờ báo với 30 trang quảng cáo và 40%
news hole cung cấp 20 trang tin tức một ngày, nhưng ngược lại tờ báo của chúng
tôi cân xứng 30 trang quảng cáo với 30 trang tin tức. Theo đó, gửi đến trang quảng
cáo bằng nhau, chúng tôi kết thúc cung cấp người đọc của chúng tôi không thấp
hơn 50% tin tức.
Chúng tôi tin tưởng trách nhiệm nặng nề
này cho tin tức là một trong những lý do The Buffalo có tỷ lệ thâm nhập hàng tuần
cao nhất (the percentage of households in the paper’s primary marketing area
purchasing it each day) nằm trong số top 50 tờ báo trong nước. Our Sunday
penetration, ở đó chúng tôi cũng là số 1, thậm chí ấn tượng sâu sắc hơn. 10 năm
trước, chỉ có tờ Sunday đáp ứng Buffalo (the Courier – Express) đã phát hành
271.000 bản và penetration ratio khoảng 63%. The Courier-Express đã phục vụ khu
vực trong nhiều thập kỷ và tỷ lệ thâm nhập của nó – cái tương tự giống hiện
hành trong nhiều thị trường thủ đô – được suy xét tới là một “natural”, chính
xác phản ánh sự ham muốn người dân địa phương cho một sản phẩm Sunday.
Tờ Sunday của chúng tôi đã bắt đầu cuối
năm 1977. Nó bây giờ có một penetration ratio 83% và bán khoảng 100.000 bản nhiều
hơn mỗi Sunday so với đã làm Courier-Express 10 năm trước – thậm chí dân số
trong khu tiếp thị đã suy giảm trong thời gian 10 năm qua. Trong lịch sử gần
đây, không thành phố nào khác mà từ lâu đã có một tờ Sunday địa phương đã trải
qua thu được một penetration bất cứ nơi nào gần Buffalo.
Mặc dù chấp nhận thị trường kỳ vọng của
chúng tôi, lợi nhuận gộp hầu như chắc chắn đã đạt đỉnh. Giá giấy in báo lớn
tăng thêm mang theo ảnh hưởng tại cuối năm 1986, và tỷ lệ quảng cáo của chúng
tôi tăng thêm trong năm 1977 sẽ lần nữa vừa phải so với ngàng. Tuy vậy, thậm
chí nếu margins trở nên eo hẹp, chúng tôi sẽ không giảm tỷ lệ news-hole.
Như tôi viết điều này, nó đã được chính
xác 10 năm từ khi chúng tôi mua The News. Các phần thưởng tài chính nó đã mang
chúng tôi có sự kỳ vọng lớn hơn và thậm chí, cũng, có các phần thưởng
non-financial. Sự tôn trọng của chúng tôi cho The News – cao khi chúng tôi mua
nó – lớn mạnh bao giờ hết từ khi mua, như có sự tôn trọng và ngưỡng mộ cho
Murray Light, người biên tập sản xuất ra sản phẩm mà nhận sự chấp nhận cộng đồng
đặc biệt. Sự nỗ lực của Murray và Stan, cái quyết định tớ News trong những ngày
đen tối cơ cấu tài chính và kiện tụng, có không trong ít nhất giảm bớt bởi sự
thính vượng. Charlie và tôi biết ơn tới họ.
Sự kinh ngạc Blumkins tiếp tục thực hiện
phép màu kinh doanh ở Nebraska Furniture Mart. Các đối thủ cạnh tranh đến và
đi, nhưng Mrs. B và con cháu của bà vẫn vậy. Trong năm 1986 doanh số ròng tăng
thêm 10,2% đạt $132m. 10 năm trước doanh số là 44m và, mặc dù thế, NFM xuất hiện
tới làm việc hầu như tất cả khả năng kinh doanh trong Greater Omaha Area. Sự thống
trị đáng chú ý NFM cụ thể, tăng trưởng chậm Omaha trong dân số và lạm phát vừa
phải rằng được đặt vào tới các hàng hóa NFM bán, làm thế nào có thể tiếp tục hoạt
động này tới quấn theo giống như tăng doanh số bán hàng lớn? Sự giải thích
logical duy nhất là phạm vi marketing của NFM 1 và duy nhất cửa hàng tiếp tục mở
rộng tại vì danh tiếng ngày càng phát triển cho giá cả chạm đáy mỗi ngày và mở
rộng sự lựa chọn. Để chuẩn bị cho mở rộng thêm, NFM đang mở rộng năng lực nhà
kho của họ, vị trí vài trăm yards từ cửa hằng, bằng khoảng 1/3
Mrs. B, chủ tịch của Nebraska Furniture
Mart, tiếp tục tại tuổi 93 bán chạy hơn và hối hả bên ngoài bất cứ quản lý tôi
đã từng nhìn thấy. Bà ở cửa hàng 7 ngày trong một tuần, từ mở cửa tới đóng cửa.
Cạnh tranh với bà đại diện một niềm vui chiến thắng của lòng dũng cảm dựa trên
sự đánh giá.
Nó đơn giản quên đi những gì tôi nghĩ tới
bài học chỉ trích ở chuỗi sự kiện Mrs. B, tại tuổi 93, chủ tịch hội đồng quản
trị có trự sở Omaha chưa đạt đỉnh cao của họ. Hãy gửi thực tế này đi cùng tư vấn
trước khi bạn đánh dấu bỏ phiếu của bạn tại đại hội thường niên năm 2024 của
Berkshire.
Tại See’s, doanh số xu hướng cải thiện một
chút từ những năm trở lại đây. Tổng pounds đã bán tăng 2% (cho bạn người mê
sô-cô-la những người thích mơ tưởng, một thống kê, chúng tô bán trên 12.000 tấn
hàng năm). Doanh số cửa hàng giống nhau, được đo lường bằng pound, hầu như
không thay đổi. Trong 6 năm trước đây, hoa hồng cửa hàng giống nhau giảm, và
chúng tôi kiếm được hoặc duy trì khối lượng hoa hồng chỉ duy nhất bởi thêm các
cửa hàng. Nhưng đặc biệt mạnh mẽ mẽ mùa Christmas trong năm 1986 bắt nguồn sự
suy giảm. Bởi sự ổn định doanh số cùng một cửa hàng và tạo một nỗ lực lớn trong
kiểm soát chi phí trong năm 1986 mặc dù nó đặt cho đến rất nhỏ giá bán tăng.
Chúng tôi có Chuck Huggins, quản lý lâu năm tại See’s, tới lời cảm ơn cho thành
tích của anh.
See’s có một sản phẩm có một không hai
“personality” được sản xuất bởi sự kết hợp ở hương vị thơm ngon của kẹo và giá
cả vừa phải, công ty kiểm soát toàn bộ quá trình phân phối, và dịch vụ nổi bật
được cung cấp bởi nhân viên cửa hàng. Chuck đúng đắn đo đường thành công của
anh ấy bởi sự hài lòng của khách hàng, quan điểm của anh ngấm vào tổ chức. Một
vài công ty bán lẻ lớn đã có thể kéo dài tâm hồn định hướng khách hàng, và
chúng tôi nợ Chuck rất nhiều cho duy trì hoạt động và tốt ở See’s.
Lợi nhuận của See’s vẫn ở mức hiện tại.
Chúng tôi sẽ tiếp tục tăng giá bán rất ít, chỉ đơn thuần phù hợp tương lai chi
phí tăng thêm.
World Book là lớn nhất trong số 17 công
ty hoạt động Scott Fetzer đã gia nhập
Berkshire đầu năm 1986. Năm ngoái tôi đã nói tới bạn sự nhiệt tình về doanh
nghiệp của Scott Fetzer và về Ralph Schey, quản lý của nó. Kinh nghiệm năm đã
thêm nhiệt tình của tôi tới cả hai. Ralph là một doanh nhân tuyệt vời và
straight shooter. Anh ngoài ra mang lại tính linh hoạt phi thường và năng lượng
tới công việc của anh: mặc dù mảng rộng doanh nghiệp anh quản lý, anh là đứng đầu
các hoạt động, các cơ hội và các vấn đề mỗi cái. Và, giống như các quản lý
khác, Ralph thực sự yêu thích công việc. May mắn của chúng tôi tiếp tục.
Khối lượng đơn vị World Book tăng thêm
năm thứ 4 liên tiếp, với doanh số bách khoa toàn thư tăng 7% năm 1985 và 45%
năm 1982. Doanh số đơn vị của Childcraft cũng tăng trưởng đáng kể.
World Book tiếp tục chi phối thị trường bách
khoa toàn thư bán trực tiếp ở Mỹ. Biên tập tốt khác thường và giá ở mức dưới 5
cents mỗi trang, các quấn toàn thư này món hời cho những người trẻ và trưởng
thành như nhau. Bạn có thể tìm thấy một kỹ thuật biên tập thú vị: World Book xếp
loại trên 44,000 từ khác nhau. Các mục nằm trong bách khoa toàn thư dễ dàng bao
hàm . các từ trong các phần mở đầu, với
sự khác nhau ở tài liệu dần dần tăng như quá trình phơi ra. Như một kết quả,
các thanh niên có thể đơn giản và thuận lợi đọc điểm tại vấn đề quá khó khăn,
thay vì ngay lập tức có giải pháp hòa trộn lên các từ đòi hỏi mức độ nhận thức đại học với mức độ của những người có trình độ
lớp 4.
Selling World Book là gọi điện. Trên ½ hoạt
động người bán hàng là giáo viên hoặc cựu giáo viên, và thêm 5% đã có kinh nghiệm
như người thư viện. Họ đúng đắn suy nghĩ bản thân họ như nhà giáo dục, và họ
làm một công việc tuyệt vời. Nếu bạn không có một tập World Book trong nhà bạn của
bạn, tôi khuyên bạn có một quấn.
Kirby cũng ghi nhận năm thứ 4 tăng thêm
khối lượng đơn vị. Worldwide, doanh số đơn vị tăng trưởng 4% năm 1985 và 33%
năm 1982. Trong khi sản phẩm Kirby đắt hơn nhiều so với hầu hết máy hút bụi
khác, nó hoạt động trong một lối mà bỏ lại các đơn vị rẻ hơn bỏ lại đằng sau
khá xa (“in the dust, “so to speak). Máy hút bụi Kirby 30 và 40 tuổi vẫn còn hoạt
động. Nếu bạn muốn mua chiếc tốt nhất, bạn mua một cái Kirby.
Nhiều công ty mà lịch sử đã có thành
công rực rỡ trong bán hàng trực tiếp đã sẩy chân trong những năm gần đây. Dĩ
nhiên kỷ nguyên của phụ nữ làm việc đã tạo ra thách thức mới cho các tổ chức
bán hàng trực tiếp. Cho đến nay, các thành tích miêu tả cả Kirby và World Book
đã đáp ứng thành công nhất.
Các doanh nghiệp miêu tả bên trên, cùng
với hoạt động bảo hiểm và Fechheimer, cấu thành các đơn vị kinh doanh chính của
chúng tôi. Sự vắn tắt miêu tả của chúng tôi không có nghĩa là giảm bớt sự quan
trọng của các doanh nghiệp này tới chúng tôi. Tất cả đã được phân tích trong
các báo cáo thường niên trước đây và, tại vì khuynh hướng những người sở hữu
Berkshire ở lại trong nếp gấp (khoảng 98% cổ phiếu tại cuối mỗi năm được sở hữu
bởi những người sở hữu tại thời điểm đầu năm), chúng tôi mong muốn tránh nhắc lại
quá mức . Bạn có thể đúng rằng chúng tôi sẽ ngay lập tức báo cáo tới bạn trong
sự chi tiết nếu các điều kiện kinh tế cơ bản hoặc vị thế cạnh tranh ở bất cứ
doanh nghiệp này thay đổi thiết yếu. Nói chung, các doanh nghiệp được miêu tả
trong khu vực này có thể là đặc điểm như có vị thế thị trường mạnh, returns on
capital employed rất cao (ROCE = EBIT/ (tổng tài sản bình quân – nợ phải trả
bình quân ngắn hạn), và quản lý hoạt động tốt nhất.
The Fechheimer Bros. Co
Mỗi năm trong báo cáo thường niên của
Berkshire tôi tính đến một miêu tả loại doanh nghiệp mà chúng tôi muốn mua.
“ad” này thành công trong năm 1986.
Vào tháng 15/1 năm ngoái tôi có nhận
được một bức thư từ Bob Heldman ở Cincinnati, một cổ đông lâu năm và ngoài ra
chủ tịch của Fechheimer Bros. Cho tới khi tôi đọc bức thư, tuy vậy, tôi không
biết Bod và Fechheimer. Bob đã viết rằng anh đang điều hành một công ty phù hợp
bài kiểm tra của chúng tôi và đề xuất chúng tôi làm việc với nhau, cái chúng
tôi đã làm trong Omaha sau khi các kết quả của họ cho năm 1985 được biên soạn.
Anh ghi vào tôi một ít lịch sử:
Fechheimer, một công ty phân phối và sản xuất quân phục, bắt đầu hoạt động năm
1842. Warren Heldman, bố của Bob, đã tham gia vào kinh doanh năm 1941và con
trai của ông, Bob và George (bây giơ chủ tịch), cùng với những người con trai của
họ, rồi sau đó tham gia công ty. Dưới sự quản lý của Heldman, doanh nghiệp
thành công lớn.
Năm 1981 Fechheimer đã bán cho một
nhóm tư bản mạo hiểm trong một leveraged buy out (LBO), với quản lý giữ lại lợi
ích vốn. Công ty mới, như là trường hợp với tất cả LBOS, bắt đầu với một tỷ lệ
nợ/ vốn cao bất thường. Sau khi mua lại, tuy vậy, hoạt động tiếp tục rất thành
công. Bắt đầu cuối năm trước nợ đã được trả căn bản và giá trị vốn chủ tăng
thêm đáng kể. Cho một vài lý do khác nhau, tư bản mạo hiểm mong muốn bán và
Bob, đã có nghiêm túc đọc báo cáo thường niên của Berkshire, suy nghĩ ở chúng
tôi.
Fechheimer chính xác là loại doanh
nghiệp chúng tôi thích mua. Thành tích kinh tế là tuyệt vời; quản lý của nó là
tài năng, cao cấp, và yêu thích những gì họ làm; gia đình Heldman mong muốn tiếp
tục lợi ích tài chính trong quyền sở hữu với chúng tôi. Theo đó, chúng tôi
nhanh chóng mua khoảng 84% cổ phiếu với một mức giá dựa trên giá trị $55m cho
toàn bộ doanh nghiệp.
Hoàn cảnh mua lại này tương tự tới
thình hành . trong mua lại Nebraska Furniture Mart: hầu hết cổ phiếu được nắm bởi
những người mong muốn sử dụng các nguồn lực khác; các thành viên gia đình những
người yêu thích điều hành doanh nghiệp của họ mong muốn tiếp tục sở hữu và quản
lý; một vài thế hệ của gia đình tích cực trong doanh nghiệp, cung cấp quản lý
cho xa như mắt có thể nhìn; và quản lý giai đình mong muốn người mua sẽ không
bán lại, bất chấp giá cả, và những người đồng hành doanh nghiệp hoạt động trong
tương lai như đã làm trong quá khứ. Cả Fechheimer và NFM đúng về chúng tôi, và
chúng tôi đúng về họ.
Bạn có thể đã cười biết rằng không
phải Charlie cũng không phải tôi đã đến Cincinnati, chủ sở của Fechheimer, tới
nhìn họ làm. (Và, nhân đây, nó hoạt động cả 2 cách: Chuck Huggins, người đã điều
hành See’s 15 năm, chưa bao giờ tới Omaha.) Nếu thành công của chúng tôi phụ
thuộc dựa trên sự hiểu thấu chúng tôi đã phát triển thông qua giám sát nhà máy,
Berkshire sẽ là trong vấn đề lớn. Ra hơn, trong sự xem xét mua lại, chúng tôi cố
gắng đánh giá các đặc trưng kinh tế của doanh nghiệp – điểm mạnh và điểm yếu cạnh
tranh – và chất lượng những người chúng tôi sẽ tham gia. Fechheimer là xuất sắc
trong cả 2 khía cạnh. Thêm vào đó Bob và George Heldman, những người trong giữa
thập niên 60s – những chú gà mùa xuân theo tiêu chuẩn của chúng tôi – có 3
thành viên tiếp theo, Gary, Roger và Fred, bảo đảm sự tiếp tục.
Như một nguyên mẫu cho mua lại,
Fechheimer duy nhất một trở ngại: Quy mô. Chúng tôi hi vọng mua lại sắp tới của
chúng tôi tối thiểu vài lần như lớn nhưng một bản than trong tất cả khía cạnh
khác. Điểm vào đầu tiên cho lợi nhuận sau thuế hằng năm tối thiểu tiềm năng mua
lại $10m sau thuế từ mức , $5m được thịnh hành khi Bob viết thư tới tôi.
Phấn khởi với thành công, chúng tôi
lặp lại quảng cáo của chúng tôi. Nếu bạn có môt doanh nghiệp thích hợp, gọi tôi
hoặc, tốt nhất, viết thư
Ở đây chúng tôi đang tìm kiếm
1.
Mua sắm lớn(tối thiểu $10m sau thuế)
2.
Chứng minh nhất quán sức mạnh thu nhập (các dự án tương lai
là ít sự quan tâm tới chúng tôi, cũng không vị thế “turn-around”)
3.
Quản lý tại chỗ (chúng tôi không thể cung cấp nó)
4.
Doanh nghiệp đơn giản (nếu quá nhiều công nghệ, chúng tôi
không thể hiểu nó)
5.
Một mức giá đề xuất (chúng tôi không mong muốn lãnh phí của
chúng tôi hoặc của người bán bởi nói chuyện, thâm chí chuẩn bị một giao dịch
khi giá cả không biết)
Chúng tôi sẽ không tham gia trong unfriendly takeovers. Chúng
tôi có thể cam đoan thực hiện bí mật và trả lời nhanh chóng – thông thường
trong khoảng 5 phút – như có hay không chúng tôi quan tâm. Chúng tôi ưa thích
mua bằng tiền mặt, nhưng sẽ quan tâm tới phát hành cổ phiếu khi chúng tôi nhận
nhiều trong giá trị doanh nghiệp như chúng tôi gửi đi. Thực vậy, theo chuyển động
gần đây trong giá cổ phiếu của Berkshire, giao dịch liên quan tới phát hành cổ
phiếu có thể được thực hiện hết sức dễ dàng. Chúng tôi mời những người bán tiềm
năng kiểm tra chúng tôi bởi liên lạc những người với người chúng tôi đã thực hiện
kinh doanh trong quá khứ. Cho quyền doanh nghiệp – và cho quyền mọi người –
chúng tôi có thể cung cấp một ngôi nhà tốt.
Nói một
cách khác, chúng tôi thường xuyên có tiếp cận về các mua lại mà không đến đến gần
phù hợp các kiểm tra của chúng tôi: new ventures, turnarounds, auction-like
sales, và the ever-popular (among brokers). “I’m sure something will work out
if you people get to know each other.” None of these attracts us in the least.
Bên
cạnh đó là quan tâm trong mua sắm toàn bộ doanh nghiệp như miêu tả bên trên,
chúng tôi ngoài ra quan tâm trong mua thỏa thuận khối lượng lớn, nhưng không kiểm
soát, lô cổ phiếu, như trong mua lại Cap Cities. Mua sắm xuất hiện tới chúng
tôi khi chúng tôi cảm thấy rất thoải mãi với tính kinh tế doanh nghiệp và khả
năng và sự tính chính trực của . người điều hành doanh nghiệp. Chúng tôi ưa
thích giao dịch lớn: trong trường hợp bất thường chúng tôi có thể làm những thứ
nhỏ hơn $50m (thậm chí bé hơn), nhưng sở thích của chúng tôi là gấp mấy lần số
đó.
Insurance
Operations
Chúng
tôi trình bày bảng thường dùng các con số ngàng, được mở rộng năm nay tới bao gồm
dữ liệu về khoản lỗ phát sinh và chỉ số lạm phát GNP (Gross National Product).
Trái ngược trong năm 1986 giữa tăng trưởng trong phí bảo hiểm và tăng trưởng
trong khoản lỗ phát sinh sẽ diễn tả bạn tại sao các kết quả bảo lãnh cho năm được
cải thiện thiết yếu.
|
|
Yearly
change in Premiums Written (%)
|
Statutory
combined Ratio After Policyholder Dividends
|
Yearly
Change in Incurred Losses (%)
|
Inflation
Rate Measured by GNP Deflator (%)
|
|
1981
|
3.8
|
106.0
|
6.5
|
9.7
|
|
1982
|
4.4
|
109.8
|
8.4
|
6.4
|
|
1983
|
4.6
|
112.0
|
6.8
|
3.9
|
|
1984
|
9.2
|
117.9
|
16.9
|
3.8
|
|
1986 (EST.)
|
22.6
|
108.5
|
15.5
|
2.6
|
Nguồn: Best’s Insurance Management Reports
Combined
ration miêu tả tổng chi phí bảo hiểm (losses incurred plus expense) so với
doanh thu từ phí bảo hiểm: < 100 cho biết một lợi nhuận bảo lãnh, và >
100 cho biết thua lỗ. Khi thu nhập đầu tư mà lợi nhuận công ty bảo hiểm đến từ
nắm giữ các nguồn lực cổ đông (“the float”) đưa vào tài khoản, một combined
ratio trong phạm vi 107 – 112 đặc trưng đưa ra nói chung một kết quả hòa vốn, loại trừ thu nhập từ các nguồn lực
được cung cấp bởi cổ đông.
Bài toán
kinh doanh bảo hiểm, tóm lược bởi bảng, là không quá phức tạp. Trong các năm
khi tốc độ hằng năm của ngàng trong phí bảo hiểm thọc cùng lúc 4% hoặc 5%, lỗ bảo
lãnh rõ ràng nâng lên. Điều này không tại vì tại nạn auto, cháy, windstorms và
như thế đang xảy ra nhiều hơn, cũng không có gần đây khuyết điểm của lạm phát
nói chung. Ngày nay, lạm phát xã hội và pháp luật là thủ phạm chính; chi phí
tham gia phòng xử án đơn giản được bơm phồng. Một phần nhảy vọt trong gia tăng
chi phí từ phán quyết tăng vùn vụt, một phần từ khunh hướng quan tòa và hội đồng
xét xử tới mở rộng mức độ bao phủ của các chính sách bảo hiểm xa hơn mà suy
tính bởi công ty bảo hiểm khi các chính sách được viết. Bởi vì không giảm bớt
trong cả 2 xu hướng, chúng tôi tiếp tục tin tưởng rằng doanh thu của ngàng phải
tăng trưởng gần 10% hằng năm cho nó tới chỉ nắm khoản nợ tới khía cạnh sinh lời,
thâm chí lạm phát chung có thể chỉ 2% - 4%.
Trong năm
1986, như đã nói, khối lượng phí bảo hiểm ngàng đạt mức cao thậm chí nhanh hơn
so với các chi phí thua lỗ. Kết quả, thua lỗ bảo lãnh của ngàng giảm đáng kể.
Trong báo cáo năm ngoái chúng tôi đã dự báo sự cải thiện rõ ràng nhưng ngoài ra
báo hiệu rằng sự thịnh vượng sẽ thoáng qua. Trời ơi, sự dự báo thứ 2 này rồi cải
thiện đúng đắn. Tỷ lệ tăng tốc trong khối lượng phí bảo hiểm đã chậm lại đáng kể
(từ một ước lượng 27,1% trong quý 1 năm 1986, tới 23,5% trong quý 2, tới 21,8%
trong quý 3, tới 18,7% trong quý 4), và chúng tôi kỳ vọng chậm hơn nữa trong
năm 1987. Thực vậy, tỷ lệ tốc độ có thể tốt giảm bên dưới con số “equilibrium”
10% của tôi bằng quý thứ 3.
Tuy
nhiên, các kết quả bảo lãnh trong năm 1987, giả định là không bị kéo xuống bởi
một thảm họa tự nhiên lớn, sẽ lại cải thiện cốt yếu tại vì sự gia tăng trong
ghi nhận doanh thu từ một lagged basis. Trên thực tế, các tin tức tốt trong lợi
nhuận theo sau tin tức tốt trong giá bởi 6 tới 12 tháng. Nhưng xu hướng cải thiện
trong thu nhập sẽ khả năng kết thúc cuối năm 1988 hoặc đầu năm 1989. Sau đó
ngàng có khả năng tiến về phía Nam trong một sự vội vàng.
Hành vi định
giá trong ngàng bảo hiểm tiếp tục chính xác những gì có thể kỳ vọng trong một
doanh nghiệp commodity-type. Chỉ duy nhất thiếu hụt các điều kiện lợi nhuận cao
đạt được, và cũng như các điều kiện không kéo dài. Khi lợi nhuận bắt đầu rực rỡ,
công ty bảo hiểm lâu đời gửi tới các nhà đầu tư với cổ phiếu mới nhằm xây dựng
nguồn vốn. Thêm vào đó, các công ty bảo hiểm mới thành lập lao vào bán cổ phiếu
tại mức giá có lợi sẵn có trong thị trường phát hành mới (giá cả thuận lợi, điều
đó là, tới những người nội bộ xúc tiến công ty nhưng hiếm khi tới các cổ đông mới).
Điều đó vận động đảm bảo rắc rối trong tương lai: năng lực tăng vọt, dòng tinh
túy cạnh tranh, và giá mờ dần.
Nó đang
quan tâm tới quan sát các lãnh đạo bảo hiểm van xin các đồng nghiệp của họ tới
hành vi trong cư xử nhiều “statesmanlike” khi định giá chính sách. “why,” họ hỏi,”can’t
we lear from history, đều đều đỉnh và đáy, và tiếp tục giá đảm bảo lợi nhuận hợp
lý?” Những gì họ mong ước, dĩ nhiên, đang định giá tương tự giống nhau, say, mức
giá hợp lý của Wall Street journal, sở hữu giá phong phú bắt đầu với và gia
tăng liên tục mỗi năm.
Sự cần
thiết cải thiện hành vi có tất cả hiệu lực của cái được tạo ra bởi một người trồng
ngô Nebraska hỏi người trồng đồng nghiệp của mình, trên khắp thế giới, tới thị
trường ngô của họ với nhiều nghệ thuật quản lý nhà nước. Những gì cần thiết
không nhiều chính khách, mà ít ngô. Bởi gia tăng số lượng vốn lớn trong 2 năm
trước, ngàng bảo hiểm có, tiếp tục ẩn dụ của tôi, mở rộng về nhà máy ngô. Kết
quả tăng thêm trong “crop” – i.e, sự tăng nhanh năng lực công ty bảo hiểm – sẽ
có ảnh hưởng tương tự trên giá và lợi nhuận mà thặng dư ngô đã có kể từ thời xa
xưa.
Hoạt động
bảo hiểm chúng tôi sở hữu đã tốt trong năm 1986 và cũng có khả năng tốt trong
năm 1987. Chúng tôi đã có lợi ích đáng kể từ các điều kiện ngàng. Nhưng nhiều
thành công tăng thêm từ nỗ lực và khả năng của Mike Goldberg, quản lý của tất cả
hoạt động bảo hiểm.
Combined
ratio của chúng tôi giảm từ 111 trong năm 1985 xuống 103 năm 1986. Thêm vào đó,
phí của chúng tôi tăng trưởng phi thường: mặc dù con số cuối cùng không có sẵn,
tôi tin trên 2 năm vừa qua chúng tôi tăng trưởng nhanh nhất trong số 100 công
ty bảo hiểm lớn nhất. Nhiều tăng trưởng của chúng tôi, nó là đúng, đến từ hợp đồng
large quota-share với Fireman’s Fund, được miêu tả trong báo cáo năm trước và
được cập nhật trong Charlie’s letter trang 54. Thậm chí nếu phí từ hợp đồng đó
được loại trừ từ cách tính, chúng tôi hầu như chắc chắn vẫn xếp hạng số 1 trong
tăng trưởng.
Thú vị,
chúng tôi là công ty bảo hiểm lớn tăng trưởng chậm lớn trong các năm trước năm
1985. Trên thực tế, chúng tôi đã co lại – và chúng tôi sẽ làm như vậy theo từng
thời điểm trong tương lai. Sự đu đưa lớn của chúng tôi trong khối lượng không
nghĩa rằng chúng tôi đến và đi từ thị trường bảo hiểm. Thực tế, chúng tôi tham
gia hầu như không dao động, luôn luôn thường trực sẵn sàng, tại mức giá chúng
tôi tin tưởng thích hợp, viết nhiều loại của high-limit coverages. Các con sóng
trong khối lượng của chúng tôi gia tăng thay cho từ ở đây – ngày hôm nay,
gone-tomorrrow hành vi ở các công ty khác. Khi hầu hết các công ty bảo hiểm là
“gone”, tại vì nguồn vốn của họ là không thích hợp hoặc họ đang đấu tranh thua
lỗ, người được bảo hiểm vội vã tới chúng tôi và tìm kiếm chúng tôi để sẵn sàng
kinh doanh. Nhưng khi đám công ty bảo hiểm “here”, và các mức giá phi thường
bên dưới các chi phí yêu cầu, nhiều khách hàng tự nhiên rời bỏ chúng tôi nhằm nắm
bắt lợi thế ở mức giá hời tạm thời được chào bán bởi các đối thủ cạnh tranh của
chúng tôi.
Sự kiên
quyết trên giá làm việc không làm khó khách hàng: anh ấy đang bị tấn công bởi sự
thu hút mức giá công ty bảo hiểm đề xuất tại thời điểm đó khi chúng tôi đang
làm việc với ít doanh nghiệp. Và công việc không khó khăn đối với nhân viên của
chúng tôi: chúng tôi không sai thải nhân viên khi chúng tôi trải qua tuần hoàn
đi xuống tại hoạt động bảo hiểm sinh lời nói chung của chúng tôi. Thực tiễn
không sa thải là lợi ích bản thân của chúng tôi. Các nhân viên những người lo sợ
rằng xa thải lớn sẽ phụ thêm suy giảm quy mô trong khối lượng phí bảo hiểm sẽ
có thể hiểu được khối lượng lớn sản xuất của doanh nghiệp qua dày và mỏng (hầu
hết mỏng).
Xu hướng
trong kinh doanh truyền thống của National Indemnity – writing các chính sách auto thương mại và trách nhiệm
chung thông qua tổng đại lý – đề xuất có bao nhiêu sự nhút nhát các công ty bảo
hiểm khác trưởng thành trong một thời gian và có bao nhiêu sự dũng cảm họ đang
có được bây giờ. Trong thời gian quý cuối năm 1984, khối lượng hàng tháng của
Nico trung bình $5m, về những gì nó đã từng hoạt động trong vài năm. Vào quý đầu
tiên năm 1986, khối lượng hàng tháng đã nhảy vọt lên $35m. Trong các tháng gần
đây, một sự suy giảm đột ngột bắt đầu. Khối lượng hàng tháng gần đây khoảng
$20m và sẽ tiếp tục giảm như các đối thủ cạnh tranh mới xuất hiện và giá cả cắt
giảm. Trớ trêu, những quản lý của một số đối thủ cạnh tranh mới là rất giống những
quản lý mà chỉ vài năm trước đây phá sản các công ty bảo hiểm đã là đối thủ cạnh tranh trước đây của chúng
tôi. Thông qua các quỹ nhà nước bão lãnh bắt buộc, chúng tôi phải trả nhiều tổn
thất các nhà quản lý còn lại chưa trả, và bây giờ chúng tôi tìm kiếm họ
writing loại doanh nghiệp giống loại
doanh nghiệp dưới cái tên mới. C’est la guerre
Doanh
nghiệp chúng tôi gọi là “large risks” được mở rộng đáng kể trong năm 1986, và sẽ
là quan trọng tới chúng tôi trong tương lai. Trong hoạt động này, chúng tôi đều
đặn viết hợp đồng với mức phí hằng năm $1 - $3, hoặc thậm chí cao hơn. Doanh
nghiệp này sẽ cần thiết biến đổi cao – giữa khối lượng và khả năng sinh lời –
nhưng trên hết vị thế nguồn vốn và sự sẵn sàng tới hợp đồng ròng lớn tạo chúng
tôi sức mạnh rất mạnh trong thị trường khi giá cả là đúng. Nói một cách khác, cấu
trúc thanh toán doanh nghiệp trở thành gần như không hoạt động tại vì giá cả hiện
tại không tạo ý thức tới chúng tôi.
Năm 1986
sự phát triển loss reserve của nhóm bảo hiểm được ghi chép trang 46. Các con số
diễn tả báo lỗ trong nợ phải trả cuối năm 1985
năm của thanh toán và định giá xa
hơn được lộ ra. Như bạn có thể nhìn, những gì tôi đã nói với bạn năm ngoái về
loss liabilities của chúng tôi xa hơn từ tương lai – điều đấy tạo 3 năm trong
dòng ở error. Nếu các quy tắc sinh lý học
được vận dụng tới Pinocchio là tới tôi, mũi của tôi bây giờ sẽ thu hút
đám đông.
Khi giám
đốc bảo hiểm chậm trễ thiết lập dự phòng thích hợp, họ thường nói “reserve
strengthening” một thuật ngữ mà đúng hơn chiếc nhẫn cao quý tới nó. Chúng hầu hết
tạo sự vững chắc nếu như họ có thêm lớp bổ sung sức mạnh tới một cái vừa đã vững
chắc bảng cân đối kế toán. Đấy không là trường hợp: thay vì thuật ngũ khó nghe
cho những gì sẽ nhiều thích hợp được gọi là “correction of previous untruths” (mặc
dù những người không chủ ý).
Chúng tôi
tạo một lỗ lực đặc biệt cuối năm 1986 tới
dự phòng đúng đắn. Tuy vậy, chúng tôi đã cố gắng chỉ là khó khăn tại cuối năm
1985. Chỉ có thời gian sẽ nói có hay không chúng tôi đã cuối cùng thành công
trong điều chỉnh ước lượng nợ phải trả bảo hiểm của chúng tôi.
Mặc dù
các khó khăn trong tôi đã có trong dự phòng và kinh tế hàng hóa của ngàng,
chúng tôi kỳ vọng hoạt động bảo hiểm tăng trưởng và tạo số lượng tiền đáng kể -
nhưng sự phát triển sẽ rõ ràng không
theo qui luật và điều đó sẽ sự ngạc nhiên khó chịu lớn theo thời gian. Nó là một
kinh doanh xảo trá và quan điểm thận trọng là thiết yếu. Chúng tôi phải lưu ý
Woody Allen:”while the lamb may lie down with the lion, the lamp shouldn’t
count on getting a whole lot of sleep.”
Trong
hoạt động bảo hiểm của chúng tôi chúng tôi có một lợi thế trong quan điểm,
chúng tôi có một lợi thế trong nguồn vốn, và chúng tôi đang phát triển lợi thế
trong lợi thế con người. Thêm vào đó, tôi thích suy nghĩ chúng tôi có nhiều lợi
thế dài hạn trong đầu tư được xây dựng từ phao quỹ bảo hiểm. Bản chất của kinh
doanh đề xuất rằng chúng tôi sẽ cần tất cả lợi thế đó nhằm thình vượng.
GEICO Corporation,
41% được sở hữu bởi Berkshire, có một năm nổi bật trong năm 1986. Toàn ngàng,
underwriting trải qua trong các dòng con người đã không cải thiện sớm càng nhiều
càng tốt nó đã làm trong các dòng thương mại. Nhưng GEICO, các dòng writing
personal hầu như dành riêng, cải thiện combined ratio tới 96,9 và ghi nhận tăng
16% trong phí bảo hiểm. Ngoài ra GEICO tiếp tục mua lại cổ phiếu quỹ và cuối
năm với ít hơn 5,5% cổ phiếu đang lưu hành so với đã có trong đầu năm. Thị phần
của chúng tôi trong khối lượng phí GEICO là trên $500 triệu , gần gấp đôi cách
đây 3 năm trước. Sổ sách kinh doanh của GEICO là một trong công ty bảo hiểm tốt
nhất thế giới, quả thật tốt hơn nhiều so với Berkshies.
Thành phần
quan trọng nhất trong thành công của GEICO là các chi phí hoạt động chạm đáy, cái
đặt công ty bên ngoài hàng trăm đối thủ cung cấp bảo hiểm ô tô. Tổng chi phí
underwriting và chi phí hòa giải thua lỗ trong năm 1986 chỉ 23,5% trên phí. Nhiều
công ty lớn cho thấy cao hơn 15 điểm % so với điều đó. Ngay cả như vậy writers rất lớn trực tiếp như Allstate và State Farm
gánh chi phí cao đáng kể so với GEICO.
Sự khác
biệt giữa chi phí của GEICO và những đối thủ cạnh tranh của nó là một loại hào
mà bảo vệ giá trị và nhiều thành trì kinh doanh khan hiếm. Không ai hiểu biết
con hào xung quanh thành trì tốt hơn so với Bill Snyder, chủ tịch của GEICO.
Anh tiếp tục làm rộng con hào bởi định hướng các chi phí xuống thấp hơn nhiều,
theo đó bảo vệ và tăng cường nhượng quyền thương mại. Giữa năm 1985 và 1986, tổng
chi phí tỷ lệ của GEICO giảm từ 24,1% xuống tới 23,5% đã nói ở trên và, dưới sự
lãnh đạo của Bill, tỷ lệ hầu như chắc chắn giảm sâu hơn. Nếu nó làm – và nếu
GEICO duy trì dịch vụ và tiêu chuẩn – tương lai công ty sẽ thực sự rực rỡ.
Giai đoạn
thứ 2 của tên lửa GEICO là chất đốt Lou Simpson, Vice Chairman, người điều hành
đầu tư của công ty từ cuối năm 1979. Quả thực, một ít lúng túng cho tôi, theo
sau trách nhiệm cho các khoản đầu tư của tại Berkshire, tới ghi chép hiệu suất
của Lou tại GEICO. Tôi chỉ sở hữu kiểm soát một khối cổ phiếu của Berkshire tạo
cho tôi đảm bảo đủ gửi tới bạn các con số dưới đây, so sánh toàn bộ ROE danh mục
tại GEICO tới so sánh Standard&Poors 500:
|
Year
|
GEICO’s Equities
|
S&P 500
|
|
1980...................................
|
23,7%
|
32,3%
|
|
1981...................................
|
5,4%
|
(5,0%)
|
|
1982...................................
|
45,8%
|
21,4%
|
|
1983...................................
|
36,0%
|
22,4%
|
|
1984...................................
|
21,8%
|
6,2%
|
|
1985...................................
|
45,8%
|
31,6%
|
|
1986...................................
|
38,7%
|
18,6%
|
Đấy không
chỉ là các con số tuyệt vời ngoài ra, đầy đủ quan trọng, họ đã thành công thành
công đúng cách. Lou tiếp tục đầu tư trong các cổ phiếu phổ thông dưới giá trị, nói riêng, không có khả năng tới thể hiện anh
ta với một thua lỗ mãi mãi và rằng, chung, gần như tới risk-free.
Tổng lại,
GEICO là một doanh nghiệp đặc biệt được điều hành bởi quản lý đặc biệt. Chúng
tôi may mắn được liên kết tới họ.
Marketable
Securities
Trong năm
1986, các công ty bảo hiểm của chúng tôi đã mua $700 triệu trái phiếu miễn thuế,
hầu hết có thời gian đáo hạn 8 tới 12 năm. Bạn có thể suy nghĩ rằng ủy thác này cho biết một sự nhiệt
tình đáng kể đối với trái phiếu. Thật
không may, điều đấy không phải như vậy, trái phiếu là khoản đầu tư tầm thường.
Chúng đơn giản dường như sự thay thế bị phản đối ít nhất tại thời điểm chúng
tôi mua chúng, và có vẻ như vậy (hiện nay sự ưa thích không phải các cổ phiếu
cũng không các trái phiếu, tôi tìm kiếm bản thân tôi cực đối lập ở Mae West như
cô công khai:” I lke only two kinds of men – foreign and domestic.”)
Chúng tôi
có thể, cần thiết, nắm các chứng khoán thị trường trong các công ty bảo hiểm
và, như tiền thu về, chúng tôi chỉ có 5
khuynh hướng để đi: (1) các đầu tư cổ phiếu phổ thông dài hạn; (2) các chứng
khoán thu nhập cố định dài hạn; (3) các chứng khoán thu nhập cố định trung hạn;
(4) tiền tương đương ngắn hạn và (5) ủy thác chênh lệch giá ngắn hạn.
Cổ phiếu
phổ thông, dĩ nhiên, là niềm vui nhất. Khi các điều kiện là tốt điều đó là, khi
các công ty với điều kiện kinh tế tốt và quản lý tốt bán dưới giá trị nội tại
doanh nghiệp – các cổ phiếu thỉnh thoảng cung cấp grand-slam home runs (thuật
ngữ trong bóng chày). Nhưng chúng tôi hiện tại không tìm thấy cổ phiếu mà tới
phù hợp các kiểm tra của chúng tôi. Tuyên bố này không có cách nào biến thành
trong dự báo thị trường cổ phiếu: chúng tôi không ý tưởng – và không bao giờ đã
có – có hay không thị trường đi lên, đi xuống, hoặc đi ngang trong tương lai gần
hoặc trung hạn.
Những gì
chúng ta biết, tuy vậy, là điều thỉnh thoảng bộc phát ở 2 bệnh siêu lây nhiểm,
sợ hãi và tham lam, sẽ mãi mãi xuất hiện trong cộng đồng đầu tư. Thời điểm sự
lây chuyền này sẽ không dự báo được. Và tính sai thị trường được đưa ra bởi
chúng sẽ tương tự không thể dự báo, cả hai là khoảng thời gian và mức độ. Theo
đó, chúng tôi không bao giờ cố gắng lường trước đến hoặc ra đi một trong 2 bệnh
dịch. Mục tiêu của chúng tôi là khiêm tốn
hơn: chúng tôi đơn giản cố gắng sợ hãi khi người khác tham lam và tham lam khi
người khác sợ hãi.
Như điều
này được viết, một ít sợ hãi rõ ràng trong Wall Street. Thay vì, hưng phấn chiếm
ưu thế - và tại sao không? Những gì có thể vui vẻ nhiều hơn so với sự tham gia trong một thị trường đi lên trong
cái phần thưởng tới những người sở hữu doanh nghiệp trở nên một cách vẻ vang đồng
đều từ hiệu suất nặng nề của chính bản thân doanh nghiệp đó. Thật không may,
tuy vậy, các cổ phiếu không thể định rõ doanh nghiệp tốt.
Thực vậy,
tại vì các chi phí quản lý đầu tư và giao dịch nặng nề họ chịu đựng, các cổ
đông như toàn bộ và trên dài hạn phải không tránh khỏi việc không hiệu quả
doanh nghiệp họ sở hữu. Nếu doanh nghiệp Mỹ, trong tổng hợp, kiếm được 12% trên
vốn hằng năm, các nhà đầu tư phải kết thúc lợi nhuận thấp hơn đáng kể. Thị trường
đi lên có thể che khuyaats định luật toán học, nhưng chúng không thể bãi bõ
chúng.
Loại đầu
tư thứ 2 mở tới các công ty bảo hiểm của chúng tôi là trái phiếu dài hạn. Điều
này dường như không có sự quan tâm tới chúng tôi
loại trừ trong các tổ chức rất đặc biệt, giống như Washington Public Power
Supply System #1, #2 và #3 phát hành, được thảo luận báo báo cáo năm 1984 của
chúng tôi. Sự ác cảm của chúng tôi tới các trái phiếu dài hạn liên quan từ sự
lo lắng rằng chúng tôi sẽ nhìn thấy tỷ lệ lạm phát cao hơn trong thời gian thập
kỷ tiếp theo. Theo thời gian, hành vi tiền tệ của chúng tôi sẽ được xác định bởi
hành vi của người làm luật của chúng tôi. Mối quan hệ này đưa ra tiếp tục sự đe dọa ổn định tiền tệ - và
sự tương ứng đe dọa tới sự sở hữu các trái phiếu dài hạn.
Chúng tôi
tiếp tục định kỳ sử dụng tiền trong lĩnh vực buôn bán chứng khoán. Tuy vậy,
không giống như hầu hết người kinh doanh chứng khoán, những người mua hàng tá
chứng khoán mỗi năm, chúng tôi chỉ mua vài mã. Chúng tôi hạn chế bản thân chúng
tôi tới các thỏa thuận lớn mà đã được công khai và không đoán chắc đi tới. Theo
đó, các lợi nhuận tiềm năng có khuynh hướng nhỏ, nhưng, với may mắn, sự thất vọng
của chúng tôi ngoài ra sẽ ít.
Danh mục
cuối năm của chúng tôi trình bày bên dưới bao gồm 1 ủy thác chênh lệch giá,
Lear-Siegler. Bảng cân đối kế toán ngoài ra bao gồm 1 khoản phải thu $145m, đại
diện số tiền nợ chúng tôi bởi Unilever, sau đó quá trình mua Chesebrough-Ponds,
một số cổ phần chênh lệch giá của chúng tôi. Arbitrage là một sự thay thế tới
Treasury Bills như nơi đậu xe ngắn hạn cho tiền – một chọn lựa mà kết hợp lợi
nhuận cao hơn tiềm năng với rủi ro cao hơn. Tới ngày, lợi nhuận của chúng tôi từ
các nguồn quỹ ủy thác tới arbitrage đã được cao hơn nhiều lần so với chúng sẽ
có được chúng tôi để lại nguồn lực đó trong Treasury Bills. Dù sao, một trải
nghiệm tồi có thể thay đổi bảng điểm rõ rêt.
Ngoài ra
chúng tôi, mặc dù nắm nhiều sự mệt mỏi, hiện nay nhìn nhận các trái phiếu miễn
thuế trung hạn như một sự thay thế tới nắm giữ Treasury ngắn hạn. Mua các trái
phiếu này, chúng tôi chạy trốn một rủi ro thua lỗ đáng kể nếu, như chắc chắn,
chúng tôi bán nhiều chúng trước đáo hạn. Tuy vậy, chúng tôi tin tưởng rủi ro
này nhiều hơn so với counter-balanced first, bởi nhiều lợi nhuận sau thuế hiện
nay có thể thực hiện từ các chứng khoán này như so với Treasury Bills và
second, bởi khả năng sinh lời rắng bán sẽ đưa ra một lợi nhuận toàn bộ so với một
sự thua lỗ. Sự kỳ vọng của chúng tối ở lợi nhuận toàn bộ cao hơn, sau khi dành
riêng cho khả năng thua lỗ và sau khi tính tất cả ảnh hưởng thuế, là tương đối
gần cuộc gọi và có thể là sai. Thậm chí nếu chúng tôi bán các trái phiếu tại một
thua lỗ khá lớn, tuy vậy, chúng tôi có thể kết thúc gặp hái lợi nhuận sau thuế
cao hơn so với chúng tôi sẽ có thực hiện bởi lặp lại rolling over Treasury
Bills.
Trong bất
cứ sự kiện, bạn nên biết rằng các kỳ vọng cho các cổ phiếu và trái phiếu chúng
tôi bây giờ nắm là vừa phải khác thường, căn cứ mức độ thị trường hiện nay. Hầu
như chắc chắn suy nghĩ tốt nhất rằng có thể xảy ra tới chúng tôi là một thị trường
trong cái chúng tôi sẽ chọn lựa bán nhiều các trái phiếu nắm giữ tại một mất
mát đáng kể nhằm tái phân bổ các nguồn lực giá trị nguồn vốn tốt hơn sau đó rất
có khả năng tiếp tục sống. Sót. Trái phiếu lỗ tôi đang nói về sẽ xảy ra nếu lãi
suất cao đến cùng; lãi suất cũng có lẽ làm giảm các cổ phiếu phổ thông hơn đáng
kể so với trái phiếu trung hạn.
Trong bất
cứ sự kiện, bạn nên hiểu biết rằng các kỳ vọng của chúng tôi cho các cổ phiếu
và trái phiếu chúng tôi đang nắm giữ là vừa phải, dựa trên mức độ thị trường gần
đây. Có lẽ suy nghĩ tốt nhất mà có thể xảy ra tới chúng tôi là thị trường trong
đó chúng tôi sẽ chọn lựa bán nhiều trái phiếu nắm giữ tại mức thua lỗ đáng kể
nhằm tái phân bổ quỹ tới giá trị nguồn vốn tốt hơn sau đó rất có khả năng hiện
hữu. Trái phiếu thua lỗ tôi đang nói về những gì xuất hiện nếu lãi suất cao đến
cùng; lãi suất tương tự hầu như chắc chắn kéo cổ phiếu phổ thông đáng kể nhiều
hơn so với trái phiếu trung hạn.
Chúng tôi
trình bày dưới đây chứng khoán ròng cuối năm 1986 trong thị trường chứng khoán.
Tất cả chứng khoán với giá trị thị trường lớn hơn $25m được liệt kê, và lợi ích
thiểu sổ của Wesco Financial Corp. Và Nebraska Furniture Mart bị loại trừ.
|
No. Of shares
|
|
Cost
|
Market
|
|
|
|
(000s omitted)
|
|
|
2.990.000
|
Capital
Cities/ ABC, Inc................
|
$515.775
|
$801.694
|
|
6.850.000
|
Geico
Corporation..........................
|
45.713
|
674.725
|
|
2.379.200
|
Handy &
Harman...........................
|
27.318
|
46.989
|
|
489.300
|
Lear
Siegler, Inc............................
|
44.064
|
44.587
|
|
1.727.765
|
The
Washington Post Company...
|
9.731
|
269.531
|
|
|
All other
common Stockholdings..
|
642.601
|
1.837.526
|
|
|
12.763
|
36.507
|
|
|
|
Total Common
Stock....................
|
$655.364
|
$1.874.033
|
Chúng tôi nên chú giải rằng chúng tôi kỳ
vọng giữ lâu dài 3 chứng khoán khởi thủy của chúng tôi , Capital Cities/ ABC,
Inc., GEICO Corporation, và The Washington Post. Thậm chí nếu các chứng khoán
này xuất hiện giá cao đáng kể, chúng tôi sẽ không dè trước bán chúng, đúng như
chúng tôi sẽ không bán See’s hoặc Buffalo Evening News nếu ai đó chào giá chúng
tôi cao hơn những gì chúng tôi tin tưởng vào giá trị doanh nghiệp.
Quan điểm này có thể dường như cổ hữu
trong một thế giới doanh nghiệp trong cái hoạt động đã trở thành thứ tự của
ngày. Quản lý hiện đại đề cập đến danh mục doanh nghiệp của anh ta – nghĩa rằng
tất cả chúng là các ứng viên cho “restructuring” mỗi khi giống như một vận động
được tuyên bố bởi sự ưa thích Wall Street, các điều kiện hoạt động hoặc
“concept” một doanh nghiệp mới. (Restructuring được định nghĩa kỹ lưỡng, tuy vậy:
nó mở rộng duy nhất tới doanh nghiệp vi phạm bán phá giá, không tới bán phá giá
các cán bộ và giám đốc những người đã mua doanh nghiệp trong nơi đầu tiên.
“Hate the sin but love the sinner” là một thuyết thần học như phổ biến với the
Fortune 500 như nó với The Salvation Army.)
Quản
lý đầu tư thậm chí nhiều tăng động: hành vi của họ trong thời gian giao dịch tạo
ra thầy tu khổ hạnh xuất hiện bình thản khi so sánh. Thực vậy, thuật ngữ “institutional investor”
trở thành những người tự mâu thuẫn được gọi là một phép nghịch lý so sánh với
“jumbo shrimp”, “lady mudwrestler” và “inexpensive lawyer”.
Mặc dù nhiệt tình cho hoạt động rằng có
doanh nghiệp quét và tài chính Mỹ, chúng tôi sẽ gắn bó với” til death do us
part policy”. Nó là duy nhất với cái Charlie và Tôi thoải mãi, nó đưa ra các kết
quả tốt, và nó cho phép quản lý của chúng tôi và những người nhận đầu tư của
chúng tôi điều hành doanh nghiệp của chúng tôi miễn nhiễm nhiều.
NHP, INC
Năm ngoái, chúng tôi bỏ $23,7m cho 50% cổ
phiếu của NHP, INC.,một nhà phát triển, syndicator, sở hữu và quản lý nhà cho
thuê nhiều người ở. Tất cả cổ phiếu điều hành lựa chọn mà đã được ủy quyền cấp
và thực hiện, lợi ích vốn của chúng tôi sẽ suy giảm đáng kể trên 45%.
NHP, Inc có một phả hệ bất thường nhất.
Trong năm 1967, tổng thống Johnson phê chuẩn một hội đồng lãnh đạo doanh nghiệp
và công dân, dẫn dắt bởi Edgar Kaiser, nghiên cứu cách gia tăng cung nhà ở gia
đình nhiều người cho người thu nhập thấp và vừa phải. Chắc chắn các thành viên
của hội đồng rồi sau đó thành lập và xúc tiến 2 thực thể doanh nghiệp tới thúc
đẩy mục tiêu này. Cả 2 bây giờ được sở hữu bởi NHP, INC. Và một hoạt động dưới
các nguyên tắc bất thường: 3 giám đốc của nó được phê chuẩn bởi tổng thống, với
tư vấn và đồng ý của thượng nghị viện, và ngoài ra nó được yêu cầu bởi luật tới
đệ trình một báo cáo thường niên tới Tổng Thống.
Trên 260 doanh nghiệp lớn, động cơ nhiều
bởi ý tưởng phục vụ cộng đồng hơn là lợi nhuận, đã đầu tư $42m trong 2 thực thể
đầu tiên, cái nhanh chóng ban đầu, thông qua mối quan hệ hợp tác, tới phát triển
cho thuê nhà ở chính phủ trợ cấp. Kiểu quan hệ hợp tác sở hữu một nhà ở riêng
và được tài chính mức độ lớn bởi thế chấp non-recourse. Hầu hết tiền vốn cho mỗi
sự hợp tác được cung cấp bởi một nhóm đối tác giới hạn những người chủ yếu được thu hút bởi miễn giảm thuế lớn
mà đi với đầu tư. NHP đóng vai trò như đối tác chung và ngoài ra mua tỷ lệ nhỏ
cho mỗi nguồn vốn hợp tác.
Chính sách nhà ở Chính phủ có, dĩ nhiên,
đã dịch chuyển và NHP nhất thiết mở rộng ra các hoạt động bao gồm các căn hộ
không trợ cấp chỉ huy tiền thuê giá thị trường. Thêm vào, một công ty con của
NHP xây nhà gia đình đơn nhất trong khu vực Washington, D.C, thu được doanh thu
khoảng $50m hằng năm.
NHP bây giờ quản lý khoảng 500 bất động
sản hợp tác nằm ở 40 bang, District Columbia và Puerto Rico, bao gồm 80.000
căn. Chi phí của các bất động sản đấy là hơn $2,5b và chúng đã được duy trì tốt.
NHP trực tiếp quản lý khoảng 50.000 đơn vị nhà và giám sát quản lý phần còn lại.
Doanh thu từ quản lý khoảng $16m hằng năm, và đang tăng trưởng.
Thêm vào đó lợi ích vốn nó mua được dựa
trên sự hình thành ở mỗi hợp tác, NHP sở hữu phong phú phần dôi ra lợi ích đến
từ sự hoạt động khi các bất động sản được xử lý và phân phối được thực hiện tới
các thành viên góp vốn. Phần dôi ra trên nhiều bất động sản “deep subsidy” của
NHP không có khả năng tới nhiều giá trị.
Nhưng phần dôi ra trên một số bất động sản khác có thể cung cấp hết sức giá trị,
cụ thể nếu lạm phát đốt nóng lên.
Việc cung cấp thông tin về thuế theo qui
định ở bất động sản từ các cá nhân đã được tạm dừng bởi Tax Reform Act 1986. Nói
chung, NHP gần đây đang cố gắng phát triển các vị thế vốn hoặc lợi ích còn lại
đáng để trong cho thuê bất động sản non-subsidized ở chất lượng và quy mô.
Trong các dự án ở loại này, NHP luôn làm việc với 1 hoặc nhiều nhóm nhà đầu tư
tổ chức lớn hoặc người cho vay. NHP sẽ tiếp tục tìm kiếm cách để phát triển nhà
ở thu nhập thấp và vừa, nhưng sẽ không khả năng thành công trừ khi chính sách
chính phủ thay đổi.
Bên cạnh đó bản thân mình, cổ đông lớn
trong NHP là Weyerhauser (sở hữu khoảng 25%) và một nhóm quản lý dẫn đầu bởi
Rod Heller, giám đốc điều hành của NHP. Khoảng 60% doanh nghiệp lớn ngoài ra tiếp
tục nắm giữ phần nhỏ quyền lợi, không ai lớn hơn 2%.
Taxation
Tax Reform Act năm 1986 ảnh
hưởng đa dạng hoạt động của chúng tôi trong cách quan trọng và khác nhau. Mặc
dù chúng tôi nhận thấy nhiều sự tán dương trong đạo luật, ảnh hưởng tài chính
ròng cho Berkshire là tiêu cực: tốc độ tăng thêm trong giá trị doanh nghiệp có
khả năng ít ra vừa phải chậm hơn dưới luật mới so với luật cũ. Ảnh hưởng ròng
cho các cổ đông của chúng tôi thậm chí nhiều tiêu cực hơn: với mỗi $ tăng thêm
trong giá trị doanh nghiệp mỗi cổ phiếu, giả định sự tăng thêm được phụ thêm
vào bởi một tương đương $ tăng trong giá trị thị trường của cổ phiếu Berkshire,
sẽ đưa ra 72 cents lợi ích sau thuế cho các cổ đông hơn là 80 cents đưa ra dưới
luật cũ. Kết quả này, dĩ nhiên, phản ảnh gia tăng trong tỷ lệ thuế tối đa trên
vốn tăng thêm cá nhân từ 20% tới 28%.
Ở đây sự thay đổi thuế chính mà ảnh hưởng
tới Berkshire
·
Thuế thu nhập thông thường doanh nghiêp được lịch trình suy
giảm từ 46% năm 1986 xuống 34% trong năm 1988. Sự thay đổi rõ ràng ảnh hưởng
tích cực tới chúng tôi – và ngoài ra có ảnh hưởng đáng kể trên 2 trong 3 đầu tư
lớn của chúng tôi, Capital Cities/ ABC và The Washington Post Company.
·
Tôi nói sự hiểu biết này trên vài năm đã có nhiều sự mờ nhạt
và thường bình luận phe phái về ai thực sự chi trả thuế doanh nghiệp – doanh
nghiệp hay khách hàng của họ. Các luận cứ, dĩ nhiên, thông thường quay vòng
tăng thuế, không giảm thuế. Những người chống lại tăng thuế doanh nghiệp thường xuyên
tranh cãi rằng các doanh nghiệp thực sự không ai tri trả thuế đánh vào họ nhưng, thay cho, đạo luật
như một loại kênh dẫn kinh tế, thông qua tất cả loại thuế cho đến người tiêu
dùng. Theo các lời biện hộ đó, bất cứ gia tăng thuế sẽ đơn giản dẫn tới tăng
giá, cho doanh nghiệp, bù đắp sự tăng thêm. Khi đã đưa quan điểm này, đề xuất
lý thuyết “pipeline” ngoài ra phải tư vấn rằng một giảm thuế cho doanh nghiệp sẽ
không giúp lợi nhuận nhưng sẽ thay vào dòng cho tới, dẫn tới tương ứng giá bán
thấp cho người tiêu dùng.
·
Ngược lại, người khác lập luận rằng các doanh nghiệp không chỉ
trả duy nhất thuế đánh lên họ, nhưng hấp thụ chúng cũng có. Người tiêu dùng, điều
này nói ở trường, sẽ không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi thuế doanh nghiệp.
·
Những gì thực sự diễn ra? Khi thuế doanh nghiệp cắt giảm,
Berkshire, The Washington Post, Cap Cities, etc., bản thân chúng hấp thụ nên những
lợi ích, hoặc làm các công ty trao qua các lợi ích cùng với khách hàng của họ
trong thiết lập giá bán thấp hơn? Điều này là một câu hỏi quan trọng cho các
nhà đầu tư và quản lý, cũng như cho những nhà tạo lập chính sách.
·
Kết luận của chúng tôi là trong nhiều trường hợp các lợi ích
của thuế doanh nghiệp thấp hơn giảm độc quyền, hoặc hầu hết độc quyền, trên doanh
nghiệp và cổ đông của nó, điều đó trong nhiều trường hợp khác các lợi ích là trọn
vẹn, hầu như chọn vẹn, trải qua khách hàng. Những gì xác định kết quả sức mạnh sự
miễn thuế của doanh nghiệp và có hay không khả năng sinh lời của miễn thuế bị
giám sát.
·
Ví dụ, khi sự miễn thuế là mạnh và lợi nhuận sau thuế bị quy
định trong mối quan hệ cư xử rõ ràng, nhưng trường hợp với các công ty điện,
thay đổi trong thuế doanh nghiệp phản ánh mức độ lớn trong giá bán, không trong
lợi nhuận. Khi thuế cắt giảm, giá bán
thông thường sẽ giảm trong thời gian ngắn. Khi thuế tăng, giá bán sẽ tăng, mặc
dù thường không như mau lẹ.
·
Kết quả giống nhau xuất hiện trong khu vực thứ 2 – trong giá
bán – ngàng cạnh tranh, công ty sở hữu hoạt động với rất yếu miễn thuế hoạt động.
Trong những ngày đó, thị trường tự do “regulates” lợi nhuận sau thuế trong một
sự chậm trễ và không theo quy luật, nhưng ảnh hưởng chung, cách cư xử. Trong thị
trường, trên thực tế, thực hiện nhiều chức năng giống nhau trong giao dịch với
ngàng cạnh tranh giá như Public Utilities Commission làm trong giao dịch với
các công ty điện lực. Trong các ngàng đó,, theo đó, thay đổi thuế rốt cuộc ảnh
hưởng giá nhiều hơn so với lợi nhuận.
·
Trong trường hợp của các doanh nghiệp không được kiểm soát
sung sướng với miễn thuế mạnh, tuy vậy, nó là câu chuyện khác: doanh nghiệp và
cổ đông của nó khi đó được thụ hưởng chủ yếu của cắt giảm thuế. Lợi ích các
công ty đó từ cắt giảm thuế nhiều như công ty điện lực sẽ nếu không có một sự
giám sát tới buộc giá bán hạ xuống.
·
Nhiều doanh nghiệp của chúng tôi, cả 2 trong chúng tôi sở hữu
toàn bộ và trong một phần, sở hữu miễn thuế như thế. Do đó, sự suy giảm trong
thuế lớn cuối cùng trong túi tiền của chúng tôi hơn là túi tiền người tiêu
dùng. Khi điều này có thể là thất sách tới bang, nó không thể xảy ra tới phủ nhận.
Nếu bạn bị cám dỗ tới tin tưởng cái khác, nghĩ cho thời điểm các bác sỹ phẫu
thuật não hoặc luật sư có năng lực nhất trong khu vực của bạn.. Có phải bạn thực
sự cho rằng phí của chuyên môn này (địa phương”franchise-holder” trong chuyên
môn của anh hoặc chị ấy) tới suy giảm bây giờ rằng thuế thu nhập cá nhân đang
được cắt giảm từ 50% xuống 28%?
Niềm vui thích phần kết luận của chúng
tôi rằng lợi ích lãi suất thấp hơn một con số ở hoạt động kinh doanh và danh mục
đầu tư nên chịu lực gay gắt, tuy vậy, bởi cái khác ở sự thuyết phục của chúng
tôi: kế hoạch thuế năm 1988, giữa cá nhân và doanh nghiệp, dường như tổng lại
không chân thật tới chúng tôi. Lãi suất đấy sẽ rất khả năng ban tặng một vấn đề
tài khóa trong Washington mà sẽ cung cập sự xung khắc với ổn định giá cả. Chúng
tôi tin tưởng, theo đó, điều đấy cuối cùng – bên trong, nói, 5 năm – hoặc lãi
suất cao hơn hoặc lạm phát cao hơn hầu như chắc chắn được cụ thể hóa. Và nó sẽ
không gây ngạc nhiên chúng tôi tới nhìn cả 2.
Thuế thu nhập doanh nghiệp đã tăng thêm
từ 28% tới 34%, hiệu lực trong năm 1987. Sự thay đổi này sẽ có một ảnh hưởng bất
lợi quan trọng vào Berkshire tại vì chúng tôi kỳ vọng nhiều lợi ích của chúng
tôi trong giá trị doanh nghiệp trong tương lai, như trong quá khứ, tới tăng
thêm từ tăng vốn. Ví dụ, 3 chứng khoán đầu
tư lớn của chúng tôi – Cap Cities, GEICO, và Washington Post – cuối năm có giá
trị thị trên $1,7b, gần 75% giá trị tài sản ròng của Berkshire, lúc này chúng
cung cấp chúng tôi chỉ khoảng $9m thu nhập hằng năm. Thay vào đó, tất cả 3
doanh nghiệp giữ lại một % lợi nhuận cao, cái chúng tôi kỳ vọng cuối cùng cung
cấp tăng vốn của chúng tôi.
Luật mới tăng thêm lãi suất cho tất thu
nhập được thực hiện trong tương lai, bao gồm lợi nhuận không thực hiện mà đã tồn
tại trước khi luật được ban hành. Cuối năm, chúng tôi có $1,2b lợi nhuận không
thực hiện trong các đầu tư nguồn vốn của chúng tôi. Ảnh hưởng của luật mới vào
bảng cân đối sẽ bị trì hoãn tại vì quy tắc GAAP quy định rằng nợ phải trả thuế
được hoãn lại vận dụng tới lợi nhuận chưa thực hiện nên được nói rõ tại lãi suất
28% hơn là thuế 30% hiện hành. Quy tắc
này được kỳ vọng sớm thay đổi. Thời điểm nó, khoảng $73m sẽ mất đi từ giá trị
ròng GAAP của chúng tôi và được thêm vào thuế thu nhập hoãn lại.
Cổ tức và thu nhập lãi được nhận bởi các
công ty bảo hiểm của chúng tôi bị đánh thuế nặng nề hơn dưới luật mới. Điều đầu
tiên, tất cả công ty sẽ bị đánh thuế 20% cổ tức họ nhận từ các doanh nghiệp nội
địa khác, tăng từ 15% dưới luật cũ. Điều thứ 2, có một sự thay đổi liên quan đến
80% còn lại rằng chỉ áp dụng các công ty bảo hiểm property/casualty: 15% của phần
dôi dư sẽ bị đánh thuế nếu các cổ phiếu chi trả các cổ tức được mua sau
07/08/1986. Thay đổi thứ 3, lần nữa áp dụng chỉ với công ty bảo hiểm
property/casualty, liên quan các trái phiếu miễn thuế: tiền lãi các trái phiếu
được mua bởi công ty bảo hiểm sau ngày 07/08/1986 sẽ chỉ được miễn 85% thuế.
2 thay đổi sau rất quan trọng. Nghĩa rằng
thu nhập của chúng tôi từ các đầu tư chúng tôi thu được trong tương lai sẽ thấp
hơn đáng kể so với đã có trường hợp dưới luật cũ. Ước đoán tốt nhất của chúng
tôi chỉ riêng thay đổi này thực tế suy giảm khả năng kiếm tiền của hoạt động bảo
hiểm của chúng tôi tối thiểu 10% từ những gì chúng tôi có thể trước đây đã kỳ vọng.
Luật thuế mới ngoài ra thay đổi cốt yếu
thời điểm thanh toán thuế bởi các công ty bảo hiểm tài sản/ tai nạn. Một quy tắc
mới đòi hỏi chúng tôi giảm bớt dự phòng thua lỗ trong thu nhập thuế của chúng
tôi, một thay đổi mà sẽ giảm mức khấu trừ và tăng thu nhập chịu thuế.
Cũng không thay đổi quy định số lượng dồn
tích thuế hằng năm trong các báo cáo của chúng tôi tới bạn, nhưng mỗi thiết yếu làm nhanh thêm lịch thanh
toán. Cái đấy là, thuế trước đây bị hoãn sẽ ngay tức khắc được front-ended, một
thay đồi mà sẽ đáng kể cắt giảm khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Một phép
suy luận sẽ gợi ra sự mất mát: nếu, quay lại tuổi 21, bạn được yêu cầu ngay lập
tức thanh toán thuế trên tất cả thu nhập bạn được hưởng tới nhận suốt cuộc đời
của bạn, cả sự giàu có cuộc đời và điền
trang của bạn sẽ là một tỷ lệ nhỏ của những gì sẽ là nếu tất cả thuế thu nhập của bạn được phải
trả duy nhất khi bạn chết.
Người đọc lưu tâm có thể nhận ra một sự
mâu thuẫn trong những gì chúng tôi nói. Ban đầu, thảo luận các công ty trong
các ngàng công nghiệp cạnh tranh giá, chúng tôi đề xuất rằng ảnh hưởng tăng hoặc
giảm thuế các công ty đó liên quan ít, nhưng thay vào đó tăng giá tới khách
hàng của họ. Nhưng bây giờ chúng tôi đang nói rằng tăng thuế sẽ ảnh hưởng lợi
nhuận các công ty bảo hiểm property/ casualty mặc dù họ hoạt động trong một
ngàng cạnh tranh giá.
Lý do ngàng ngày có khả năng là một ngoại
lệ tới quy tắc chung của chúng tôi không
tất cả các công ty bảo hiểm lớn sẽ làm việc với công bằng thuế đồng nhất. Sự khác biệt quan trọng sẽ tồn tại cho một
vài lý do: một thuế tối thiểu thay thế mới sẽ ảnh hưởng quyết định nhiều công
ty nhưng không phải công ty khác; chắc chắn các công ty bảo hiểm lớn có thua lỗ
lớn mang theo tiền lệ rằng sẽ tấm khiên lớn thu nhập của họ từ thuế đáng kể cho
tối thiểu vài năm; và kết quả của nhiều công ty bảo hiểm lớn sẽ gập lại vào
trong lợi nhuận hợp nhất từ các công ty với hoạt động phi bảo hiểm. Các điều kiện
tạp nham đó sẽ đưa ra rất khác nhau biên tỷ lệ thuế trong ngàng property/
industry. Điều đó sẽ không là trường hợp, tuy vậy, trong hầu hết ngàng
price-competitive, giống như nhôm, ô tô và cửa hàng bách hóa, nơi mà người chơi
lớn sẽ nói chung được dám chắc với công bằng thuế giống nhau.
Không có công thức thuế chung cho các
công ty property/ casualty nghĩa rằng tăng giảm rơi vào ngàng có lẽ
không tăng giá tới người tiêu dùng mức độ mà họ sẽ ở trong ngàng
price-competitive điển hình. Công ty bảo hiểm, nói cách khác, bản thân họ chịu
đựng nhiều trong gánh nặng thuế mới.
Một phần bù đắp tới gánh nặng đó là một
điều chỉnh “fresh start” được xuất hiện 01/01/1987 khi ngày 31/12/1986 con số dự
phòng tổn thất đã được chuyển đổi cho mục đích thuế tới các cơ sở chiết khấu
đòi hỏi mới. (Trong báo cáo gửi tới bạn, tuy vậy, dự trữ vẫn giữ nguyên chính
xác các giá gốc giống nhau như trong chưa chiết khấu trước đây loại trừ trong
các trường hợp đặc biệt giống như structured settlements). Ảnh hưởng ròng của
“fresh start” gửi tới chúng tôi gấp 2 sự miễn giảm: chúng tôi sẽ có một giảm
thuế trong năm 1987 và các năm tương lai cho một phần phí phát sinh của chúng
tôi nhưng tổn thất bảo hiểm chưa thanh toán mà đã được miễn giảm đầy đủ như các
chi phí trong năm 1986 và đầu các năm.
Tăng thêm trong giá trị ròng được tạo ra bởi sự thay đổi
lúc này không được phản ánh trong báo cáo tài
chính của chúng tôi. Xa hơn, dưới các quy tắc GAAP[1]
hiện hành (cái có thể bị thay đổi), lợi ích sẽ chảy vào trong báo cáo kết quả
kinh doanh và, do đó, chảy vào trong giá trị ròng lên các một vài năm tiếp theo
bằng cách giảm nghĩa vụ thuế. Chúng tôi kỳ vọng tổng lợi ích từ điều chỉnh
fresh-start tới trong phạm vi $30 – $40m. Nên được lưu ý, tuy vậy, điều đấy đây
là lợi ích một lần, nhưng ngược lại tác động tiêu cực ở thay đổi thuế bảo hiểm
liên quan khác là không chỉ liên tục nhưng, trong các khía cạnh quan trọng, sẽ
trở thành nhiều ác liệt như thời gian trôi qua.
The General Utilities Doctrine được bải
bõ bởi luật thuế mới. Điều này nghĩa rằng trong năm 1987 và về sau sẽ có nhân
đôi thuế trên giải thể công ty, một tại mức doanh nghiệp và thêm tại mức cổ
đông. Trong quá khứ, thuế tại mức doanh ngiệp có thể được tránh. Nếu Berkshire,
ví dụ, bị giải thể - cái hầu như chắc chắn không xảy ra – các cổ đông sẽ, dưới
luật mới, nhận ít hơn từ bán các tài sản của chúng tôi so với họ sẽ có nếu các
tài sản đã được bán trong quá khứ, giả định giá bán giống nhau trong mỗi lần
bán. Dẫu cho kết quả này là lý thuyết trong trường hợp của chúng tôi, sự thay đổi
trong luật sẽ ảnh hưởng rất thiết yếu nhiều công ty. Theo đó nó ngoài ra ảnh hưởng định giá của chúng tôi ở
các đầu tư tương lai. Số tiền thu được, vi dụ, thành quả các công ty dầu và
khí, truyền thông, bất động sản, vân vân. ,mà có thể mong ước tới bán hết. Giá
trị mà các cổ đông của họ có thể thu được có khả năng giảm đáng kể đơn giản tại
vì General Utilities Doctrine đã được loại bỏ - mặc dù tính kinh tế hoạt động của
công ty sẽ không có thay đổi bất lợi tại tất cả. Cảm tưởng của tôi sự thay đổi
quan trọng này trong luật vẫn chưa có nhận thức đầy đủ bởi nhà đầu tư hoặc nhà
quản lý.
Mục này của báo cáo đã được lâu và nhiều phức tạp hơn so với tôi mong muốn.
Nhưng các thay đổi trong luật là nhiều và quan trọng, đặc biệt đối với công ty
property/ casualty. Như tôi đã nhắc nhở, luật mới sẽ tổn thương kết quả của
Berkshire, nhưng tác động tiêu cực là không thể tránh khỏi tới xác định số lượng
với bất cứ độ chính xác.
Miscellaneous
Chúng tôi đã mua một công ty máy bay phản
lực năm ngoái. Những gì bạn đã nghe về
máy bay như vậy là đúng: chúng rất đắt và xa xỉ trong hoàn cảnh như của chúng
tôi ở đó ít đi lại tới ra ngoài xa các địa
điểm bị yêu cầu. Và các máy bay không chỉ chi phí quá nhiều hoạt động, chúng tốn
kém rất nhiều chỉ để xem. Trước thuế,
chi phí vốn + khấu hao trên một máy bay mới $15m có lẽ hoạt hoạt động $3m hằng
năm. Máy bay chúng tôi sở hữu, mua đã qua sử dụng $850.000, các chi phí hoạt động
gần $200.000 hằng năm.
Nhận thức các con số như vậy, chủ tịch của
bạn, thật không may, trong quá khứ đã thực hiện một số phát biểu quá độ xa hơn
về công ty máy bay phản lực. Theo đó, trước khi mua, tôi đã bị thúc đẩy vào
trong phương thức Galileo của tôi. Tôi nhanh chóng trải nghiệm cần thiết
“counter-revelation” và đi lại bây giờ đơn giản đáng kể - và đắt hơn đáng kể so
với trong quá khứ. Có hay không Berkshire sẽ kiếm được giá trị tiền của nó từ
máy bay là một câu hỏi mở, nhưng tôi sẽ làm
việc theo đuổi niềm vui chiến thắng kinh doanh mà tôi có thể (không vấn đề hoài
nghi ra sao) quy cho nó. Tôi lo lắng Ben Franklin đã có con số của tôi. Anh ấy
nói: “So convenient a thing it is to be a reasonable creature, sincee it
enables one to find or make a reason for everything one has a mind to do.”
Khoảng 97% tất cả cổ phiếu đủ tư cách
tham gia chương trình đóng góp cổ đông chỉ định năm 1986 của Berkshire. CÁc
đóng góp đã thu được $4m, và 1934 tổ chức từ thiện là người nhận.
Chúng tôi thôi thúc các cổ đông mới đọc
miêu tả chương trình đóng cổ đông chỉ định của chúng tôi mà xuất hiện trang 58
và 59. Nếu bạn mong ước thới tham dự chương trình trong tương lai, chúng tôi
mãnh mẽ thúc dục rằng bạn trực tiếp đảm bảo cổ phiếu của bạn được đăng ký trong
tên của người sở hữu thực tế, không tên “street” hoặc tên danh nghĩa. Cổ phiếu
không đăng ký quá 30/12/1987 sẽ không đủ tư cách cho năm 1987.
Năm ngoái hầu như 450 người tham dự đại
hội thường niên, tăng từ 250 năm trước đây. Tôi hi vọng bạn có thểm tham gia
chúng tôi ngày 19/05 ở Omaha. Charlie và tôi thích trả lời các câu hỏi liên
quan sở hữu. Khi kết thúc các câu hỏi có thể mất nhiều thời gian – chúng tôi có
khoảng 65 năm ngoái do đó bạn nên cảm thấy
thoải mãi tới để lại dù chỉ một lần bạn sở hữu đã được trả lời.
Năm ngoái, sau đại hội, một cổ đông từ
New Jersey và người khác từ New York đi tới Furnture mart, ở đó mỗi người đã
mua một thảm Oriental $5000 từ Mrs. B (Tới chính xác, họ đã mua thảm mà có thể
chi phí $10.000 ở bất cứ đâu có cái họ đã chịu khoảng $5000). Mrs. B đã hài
lòng nhưng không thoải mãi – và bà sẽ tìm kiếm bạn tại cửa hàng đại hội năm
nay. Trừ khi cổ đông của chúng tôi top ghi nhận các năm, tôi sẽ gặp rắc rối. Do
đó làm cho tôi (và cho chính bản thân bạn) một người ủng hộ, và đi gặp cô ấy.
February 27, 1987
Warren E, Buffett
Chairman of the Board
No comments:
Post a Comment